Page 244 of 304 FirstFirst ... 144194234240241242243244245246247248254294 ... LastLast
Results 2,431 to 2,440 of 3035

Thread: Nghe Chuyện Hà Nội

  1. #2431
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 15

    • Nguyễn An Ninh, năm lần bị bắt và bị cầm tù

    1- Lần thứ nhất: 20/3/1926[60], bị bắt, bị kết án 18 tháng tù, v́ tội phá rối trị an, viết báo Chuông rè và truyền đơn xúi dân làm loạn, tổ chức mít tinh tại Xóm Lách, Vườn Xoài ngày 21/3/1926 -tổ chức chứ không tham dự, v́ bị bắt từ hôm trước- ở nhà bà Đốc Phủ Tài, d́ ruột Ninh, và đưa ra bản quyết nghị có ba ngàn người biểu quyết. Quyết nghị đ̣i Tám điểm, tương tự như Bản Thỉnh Nguyện Thư của Phan Văn Trường 1919. Bốn ngày sau, 24/3/1926, Phan Châu Trinh mất. Nguyễn An Ninh đă dặn ḍ nhóm Đặng Văn Kư, Huỳnh Đ́nh Điển, Phan Khôi lo liệu cho Phan Châu Trinh trước khi bị bắt - sẽ nói rơ hơn trong chương 20, phần viết về đám tang Phan Châu Trinh.

    Ngày 7/1/1927, được ân xá, Ninh xin sang Pháp lo cho gia đ́nh Nguyễn Thế Truyền về nước[61]. Ngày 7/12/1927 Truyền và Ninh lên tàu Chantilly từ Marseille về Sài G̣n.

    2- Lần thứ nh́: tháng 9/1928, bị kết án ba năm tù v́ tội lập Hội Kín Nguyễn An Ninh, dính líu gần 500 người bị bắt v́ tội "đảng viên". Phan văn Hùm cũng bị tù, được thả, viết cuốn sách nổi tiếng Ngồi tù khám lớn. Đến cuối năm 1930, Ninh được thả.

    3- Lần thứ ba: 4/1936, bị bắt về tội viết báo La lutte - Tranh đấu, quy tụ nhóm Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Lê Văn Thử, Phan Văn Hùm, phá rối trị an, bị kết án 18 tháng tù, cùng với Tạ Thu Thâu, Nguyễn Văn Tạo. Tuyệt thực. Tháng 11/1936 được thả.

    4- Lần thứ tư: 7/37 bị bắt trở lại, kết án 5 năm tù ở, 5 năm biệt xứ, về tội tổ chức biểu t́nh ở quận Càn Long "xúi giục dân chúng nổi loạn". Tháng 1/1939 được ân xá.

    5- Lần thứ năm: Ngày 5/10/1939, đệ nhị thế chiến bùng nổ, bị bắt cùng với nhiều nhà chính trị khác đủ các khuynh hướng. Ninh bị kết tội phá rối trị an bằng cách hành động trong những cơ quan bí mật, tiếp xúc và xúi giục nông dân, thợ thuyền nổi lên chống chính phủ Pháp. Bị kết án: 5 năm tù. 10 năm biệt xứ và mất quyền công dân.

    Lần này không thoát khỏi tử thần, nhà cách mạng Nguyễn An Ninh mất tại Côn Đảo ngày 14/8/1943, ở tuổi 43[62].


    Bài diễn thuyết Cao vọng thanh niên tại hội Khuyến học Sàig̣n, đêm 15/10/1923 đánh dấu sự thành công đầu tiên của Nguyễn An Ninh như một nhà trí thức ái quốc 23 tuổi "mở màn cho cao trào cách mạng, mở mang dân trí, dân sinh, dân quyền, dân chủ cho ṇi giống Việt" như Phương Lan Bùi Thế Mỹ nhận xét.

    Nguyễn An Ninh đă ảnh hưởng sâu xa đến lớp trẻ như Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Tạ Thu Thâu... Họ coi Ninh là thần tượng, "noi gương" Ninh làm cách mạng chống Pháp, lập đảng Trốt-kít. Phan Khôi, dù lớn hơn Ninh 13 tuổi, cũng chịu ảnh hưởng của Ninh trong việc xây dựng một nền quốc học, thoát khỏi ảnh hưởng Khổng Mạnh, gần gụi với tinh thần khoa học Tây phương.

    Tại Paris, Ninh vừa làm vừa học: viết bài khảo cứu về Đông Phương học cho các báo, hoặc làm người mẫu cho họa sĩ. Chơi thân với giới văn nghệ sĩ Pháp và nhóm Anarchiste - Vô chính phủ. Khi về nước, viết báo, lên khung, in báo, mặc áo dài, để tóc dài, đem báo rao bán trên đường Catinat. Nấu dầu cù là Nguyễn An Ninh đem bán khắp thôn quê kiếm sống và diễn thuyết, nói chuyện với quần chúng đói khổ về t́nh h́nh đất nước. Có lúc Ninh và Hùm cạo trọc đầu.

    Tại Paris, hoạt động tích cực trong nhóm Người An Nam Yêu Nước, là một trong Ngũ Long, diễn thuyết và viết báo chống thực dân. Hồ Hữu Tường viết: "Tụi Tây ít khi phục bằng cấp (...) Ninh viết français hay lắm, tụi nó lác mắt. Chừng đó mới chịu phục (...) Khởi đầu, Ninh viết trong tờ Le Libertaire[63] là cơ quan anarchiste [64] Tây nó phục rồi, mới rủ Ninh đứng vào nhóm sáng lập tạp chí Europe (do J.R. Bloch làm giám đốc)... Vào tạp chí Europe, Ninh làm quen với Léon Werth. Sau Ninh rủ Léon Werth qua bên ḿnh. Về Pháp, Léon Werth viết cuốn Cochinchine để ca tụng Ninh là người trí thức độc nhứt kể cả Tây lẫn Việt, mà Werth gặp được ở Nam Kỳ"[65].

    Phương Lan Bùi Thế Mỹ viết: "Năm 1922, vào mùa thu, sau khi kết nạp, t́m ṭi, học hỏi ở Ư và ở Anh, kết nạp đặng nhiều bạn đồng chí như lănh tụ Ấn Độ Nerhu, Ninh đă trở về đất nước phổ biến chí hướng phong trào ái quốc, cách mạng với dân tộc. Cái tài quan trọng nhứt là tài diễn thuyết và viết. Ninh đem từ Âu Châu về một lối văn mới, lời ít mà nói nhiều, câu văn gọn không rườm rà dài ḍng lê thê mà tối nghiă như lối nhà văn thâm nho"[66].

    Lối viết thẳng và bộc trực này, cũng sẽ là lối viết của Phan Khôi, đặc biệt trong những văn bản cuối cùng, lập luận và văn phong của Phan Khôi chống Đấu tranh giai cấp có nhiều điểm giống Nguyễn An Ninh. Ninh viết về Đạo Phật, về Nietzsche, dịch 5 chương đầu cuốn Contrat social - Dân ước của Rousseau... Hành động quyết liệt nhưng tư tưởng trung dung, giao hoà Âu Á. Đó là Nguyễn An Ninh.

    Nguyễn An Ninh tỏ ḷng ngưỡng mộ đặc biệt Lương Ngọc Quyến, có lẽ cái chết bi tráng của Ngọc Quyến đă gây dấu ấn sâu đậm trong An Ninh, khiến sau này Ninh cũng trở nên một nhà cách mạng can trường vào bậc nhất thế hệ ông. Trong 43 năm sống, một phần ba đời vào tù ra khám, nhưng không hề nhụt chí, tiếp tục tranh đấu bằng ng̣i bút cho đến chết.

    Với cái nh́n rộng về t́nh h́nh thế giới, thâm hiểu cuộc cách mạng bất bạo động của dân Ấn Độ, Nguyễn An Ninh là khuôn mặt cách mạng hiện đại nhất của chúng ta. Một thần tượng trẻ trung, bụi đời, hippie, hóm hỉnh. Nhưng Nguyễn An Ninh c̣n là người anh cả nếu không muốn nói là cha đẻ của phong trào cách mạng thanh niên, chủ yếu nhóm Trốt-kít, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Huỳnh Văn Phương... những thanh niên học trường Tây, sử dụng ngôn ngữ Voltaire, dùng tinh thần cách mạng 1789 để chống thực dân Pháp tại Pháp và tại Nam Kỳ, trong suốt 25 năm, từ 1920 đến 1945, mới bị cộng sản tiêu diệt.

  2. #2432
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 15

    • Cái chết của Nguyễn An Ninh

    Nhà báo Bùi Thế Mỹ, bạn đồng hành của Nguyễn An Ninh đă t́m cách xây dựng lại hoàn cảnh cái chết của Nguyễn An Ninh qua lời những nhân chứng bị giam cùng với Ninh trong đó có Hồ Hữu Tường và Tạ Thu Thâu.

    1/ Phương Lan Bùi Thế Mỹ viết: "Nguyễn An Ninh, sau ba năm tù đầy thiếu thốn, ăn gạo hẩm, khô mực, không chút rau cỏ, không đủ sinh tố, lúc đầu chưa xẩy ra đệ nhị thế chiến, th́ thỉnh thoảng c̣n tiếp được đồ tiếp tế của gia đ́nh từ quê nhà gởi ra, đỡ khổ phần nào, khi bị chiến tranh phong tỏa mấy cửa biển lớn tầu bè ít đi lại, không được nhà tiếp tế, th́ sức khoẻ Ninh lần lần kiệt quệ, đau ốm thường, nên thân h́nh nhà cách mạng chỉ c̣n da bọc lấy xương. Khi vướng bệnh kiết lỵ qua bệnh thũng, chịu bệnh tật hành hạ một thời gian ngắn, Ninh mới thở hơi cuối cùng vào mùa Vu Lan, nhằm ngày 14/8/1943 (theo lời một tù nhân tại chỗ nói lại, chẳng hiểu có đúng hay không?) (...)

    "Không muốn cho người anh hùng dân tộc bỏ vùi thi thể trong hai mảng bao hàng, một người bạn gái, Pháp lai, cùng học chung với Ninh một trường Đại Học Sorbonne là Charlotte Printanière, vợ một kỹ sư nhà đèn tại Côn Đảo, có mướn đóng cho Ninh một chiếc quan tài, để cho Ninh ấm áp thi hài ngày cuối cùng, nhưng không được viên xếp khám là Tisseyre đồng ư, cho phép. Bà Charlotte tức giận gây với lăo ta (...)

    V́ sự kiện này, mà viên Giám đốc Tisseyre gửi đơn thưa bà kỹ sư. Và sau đó bà được lịnh rời Côn Đảo, không cho phép ở lại đó nữa. Chồng bà thua buồn, chán ngán, cũng xin đổi về đất liền theo vợ" [67].

    2- Phương Lan Bùi Thế Mỹ trích đoạn Hồ Hữu Tường, tù chung với Nguyễn An Ninh, dưới bút hiệu Bửu Liên, kể lại trên báo Hoà Đồng:

    "Gặp nhau và sống chung với nhau trong tù từ 1939 đến 1943. Chung sống trong tù, chúng tôi có dịp trao đổi với nhau những suy tư (...) Vài tháng trước khi vĩnh biệt.... Nguyễn An Ninh đă xin phép nhà cầm quyền để ghi vào một chúc thơ dài. Ngày ngày Giám thị mở khám để cho Ninh ra ngoài hành lang một ḿnh với giấy mực, để nghiền ngẫm mà viết cái chúc thơ tinh thần ấy. Cả tuần lễ như vậy mới thảo xong. (...)"

    Nhưng rất tiếc, theo tác giả Bửu Liên, chúc thư này Nguyễn An Ninh viết bảo để lại cho con, nhưng sự thật là lời chúc thư gửi cho cả thế hệ trẻ của dân tộc.

    Rồi chúc thư lạc về đâu mất? Chẳng có đến tận tay gia đ́nh nhà cách mạng Nguyễn An Ninh. Pháp cất giữ để làm tài liệu ư? Hay đă bị bỏ mất, thủ tiêu?"[68]

    3- Phương Lan Bùi Thế Mỹ trích nhà văn Đỗ Bá Thế, trên báo Quyết Tiến, trong chương V, tiểu thuyết Thiếm Bẩy Giỏi thuật lời Tạ Thu Thâu kể lại Nguyễn An Ninh chết đau thương trong lao tù như thế nào:

    Từ ngày ở Côn Nôn về chưa bao giờ Thâu có một ngày nghỉ ngơi trọn vẹn, Thâu muốn trở lại hoạt động, gặp lại các đồng chí cũ, Thâu hẹn gặp Mười G̣ Vấp và bị Minh Hải cản: anh đi làm ǵ, Thâu trả lời: "Em nói vậy nghe sao được! Thằng Mười G̣ Vấp là em út ruột của anh Ninh. Khi anh Ninh gần chết, có dặn nếu anh về đất liền, th́ t́m nó, thuật lại cho nó nghe phút cuối cùng của anh để anh em an ḷng (...)

    - Nhưng này anh Năm[69] à, lúc anh Ninh gần chết, tánh t́nh ảnh có thay đổi ǵ không! tại sao tụi Trấn, Giầu[70] đồn quá trời vậy anh?

    - Chúng nó đồn anh Ninh điên phải không?

    - Có chỗ họ nói anh Ninh bị thác loạn tâm hồn, tinh thần rất xuống và lúc gần chết chúng tuyên truyền anh Ninh loạn óc.

    Nhưng anh Ninh có loạn óc thật hay không vậy anh Năm?

    - Th́ em c̣n lạ ǵ chúng nó nữa ! (...)

    - Lúc anh Ninh ở Sài G̣n c̣n mập mạnh, ra Côn Đảo vài năm sau sức khoẻ anh xuống quá nhiều. Anh đau ốm liên miên. Trong lúc đó, bọn anh Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng triệt để khủng bố tinh thần anh. Chúng nó lập tiểu tổ phê b́nh những người không cùng chánh kiến. Anh đây cũng bị chúng nó áp đảo tinh thần suốt mấy năm trời trong lao.
    Đă nhiều lần anh cố khuyên anh Ninh ráng chịu đựng ! Nhưng sức khoẻ của ảnh quá kiệt quệ, bịnh thiếu sinh tố càng làm cho ảnh mau xuống tinh thần nữa. Đến một hôm không c̣n hy vọng ǵ kéo dài cuộc sống tù tội, ảnh có nói một câu với anh: "Thâu, em có về được đất liền nhờ nói với con anh, bảo chúng nó phải pḥng ngừa bọn Sít-ta-lin-niên" (Stalinien)[71].

    Sự thật lịch sử này sẽ bị sửa đổi hoàn toàn trong tuyển tập Nguyễn An Ninh - Tác phẩm, do gia đ́nh và Trung Tâm Nghiên Cứu Quốc Học in năm 2009.

    ............

    Xét ra cho cùng : bàn tay của thực dân Pháp vẫn êm ái hơn bàn tay của bọn cộng sản Việt Nam rất nhiều , dù là cùng chung "cây khế", cùng máu đỏ da vàng , cùng chung lịch sử Lạc hồng !!!

  3. #2433
    Tran Truong
    Khách

    Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc _ Thụy Khuê _ Chương 15

    Chú thích :
    [1] Cần vương: cứu vua.

    [2] Văn thân: lấy văn học tiến thân vào đời.

    [3] Kỳ ngoại hầu nghiă là Ông hầu ngoài kinh kỳ, tức ḍng hoàng tử Cảnh.

    [4] Lấy Lưu Cầu, tên một quốc đảo phụ thuộc vào Trung Hoa bị Nhật chiếm năm 1879, làm ẩn dụ.

    [5] Cha Đặng Thai Mai.

    [6] Phan Bội Châu niên biểu tức Tự Phán.

    [7] Phan Châu Trinh, Pháp Việt liên hiệp hậu chi tân Việt Nam - Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp, bản dịch của Nguyễn Q.Thắng, Nguyễn Văn Tưởng, in trong Phan Châu Trinh cuộc đời và tác phẩm của Nguyễn Q. Thắng, Văn Học, 1992, trang 251-285.



    [8] Trong số những sinh viên đầu tiên vượt biển sang Nhật, có anh em Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh, (con Lương Văn Can, hiệu trưởng Đông Kinh Nghiă Thục) và Nguyễn Hải Thần (môn đệ của Lương Văn Can), sau này sẽ trở thành lănh tụ Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội. Lương Ngọc Quyến là một thanh niên "bụi đời" đầu thế kỷ XX, nghệ sĩ, để tóc dài, sang Nhật, học trường quân sự Chấn Vơ, đi "ăn mày" để quyên tiền cho sinh viên Đông Du. Tự do, quật khởi, bất khuất. Nhiều năm bôn ba ở Trung Hoa t́m cách mộ binh đánh Pháp. Sau này, Nguyễn An Ninh sẽ tiếp tục h́nh ảnh nhà cách mạng bụi đời Lương Ngọc Quyến.

    Theo Đào Trinh Nhất và Nguyễn Hiến Lê, năm 1915 Lương Ngọc Quyến bị bắt ở Hương Cảng giải về Hà Nội, giam ở nhiều nơi, rồi đưa lên Thái Nguyên. Darbes, công sứ Thái Nguyên, nổi tiếng bạo ngược nhất đất Bắc, sai dùi bàn chân Lương Ngọc Quyến buộc vào xích sắt. Dù vậy, Quyến vẫn liên lạc với viên đội khố xanh Trịnh Cấn. Đêm 30/8/1917, Trịnh Cấn phá ngục, chiếm đồn, cơng Lương Ngọc Quyến ra để chỉ huy. Nghiă quân làm chủ Thái Nguyên từ 30/8 đến 5/9, lấy cờ năm sao làm quốc kỳ, đặt quốc hiệu là Đại Hùng đế quốc, công bố hai bài tuyên ngôn với quốc dân. Khi Pháp tiến đánh, biết thế không giữ nổi, không chịu theo cáng để rút lui, Lương Ngọc Quyến nhờ Trịnh Cấn bắn một phát vào ngực ngày 5/9. Lương để lại bài Cảm tác trước khi mất, lời thơ hùng tráng, bi phẫn. Đội Cấn rút quân chống cự với Pháp, ngày 5/1/1918, bị vây và bị thương ở Pháo Sơn, chỉ c̣n 4 thủ hạ, Trịnh Cấn tự bắn vào bụng. Hai cái chết oanh liệt bi tráng vào bậc nhất trong lịch sử cách mạng dân tộc. Ngô Đức Kế lúc ấy đang bị tù ở Côn Đảo, làm sáu bài thơ tứ tuyệt chữ Hán tựa đề Thái Nguyên thất nhật Quang Phục kư. Lương Ngọc Quyến trở thành thần tượng của Nguyễn An Ninh và khởi nghiă Thái Nguyên 1917 dẫn đến khởi nghiă Nguyễn Thái Học 1930.

    [9] Ḷng thành động đến thánh hiền.

    [10] Núi có danh sản xuất ra ngọc tốt - Núi có danh v́ có người hiền tài.

    [11] Tinh thần Duy tân bắt nguồn từ những bản điều trần của Phạm Phú Thứ (1821-1882), Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) dâng vua Tự Đức (1829-1883), đó nguyên nhân xa. Nguyên nhân gần: Tinh thần Duy Tân bắt nguồn từ Nguyễn Lộ Trạch (1852-1895) với văn bản Thiên hạ đại thế luận, viết năm 1892. Các lănh tụ Đông Du và Duy Tân đều đọc và chịu ảnh hưởng của văn bản này trước khi đọc Tân thư do Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu giới thiệu và dịch Rousseau, Montesquieu sang chữ Hán. Thiên hạ đại thế luận nay đă mất, nhưng qua Huỳnh Thúc Kháng, chúng ta có thể biết những điểm chính của bài đại luận này:

    1- Nước mạnh hay yếu là tại chánh giáo (là nền giáo dục lấy chánh đạo để đào tạo sĩ phu và quốc dân) chứ không phải tại lớn nhỏ. 2- Tŕnh bày t́nh trạng tê liệt của Trung Hoa. Người Việt Nam đừng trông mong ǵ nước ấy giúp ḿnh. Phải biết Duy Tân mà tự cường như Nhật Bản mới mở mặt được. 3- Bàn về các lẽ suy nhược của Việt Nam. 4- Muốn cứu nước, không thể theo đường cũ mà phải: a- Chấn chỉnh chánh giáo. b- Duy Tân, mở mang nông, công, thương, kỹ thuật khoa học của Âu Tây. c- Chờ cơ hội thuận lợi mà cứu nước. Sau khi tŕnh bày bài luận trên, Huỳnh Thúc Kháng viết: "40 năm về trước (tức là 1892) mà học giới ta nước ta có người đại văn hào viết bài đại luận t́nh lư đă xác thực châu đáo mà văn thể cũng hùng kiện, không đáng gọi là Khang, Lương của nước ta hay sao? Chính cụ Sào Nam, cụ Tây Hồ và phần nhiều trong đám tiên thời nhân vật ở xứ ta sở đắc ảnh hưởng của bài ấy rất là sâu xa mật thiết, không kém ǵ sách Lương, Khang kia". Đúng như nhận xét của Nguyễn Văn Xuân: "Đại Thế Luận của Nguyễn Lộ Trạch đưa ra nét chính, phác họa một phong trào Duy Tân c̣n thô sơ. Phải nhờ Phan Châu Trinh mang chủ thuyết Dân Quyền về làm Chánh giáo, phong trào Duy Tân mới thực sự mở màn" (theo Nguyễn Văn Xuân, Phong Trào Duy Tân, Lá Bối, 1969, các trang 33-34-35).

    [12] Lê Thị Kinh, bản hỏi cung Nguyễn Tử Trực, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, nxb Đà Nẵng, 2001 tập 1, quyển 1, trang 74.

    [13] Trích Thông sử Liên Thành do bác sĩ Hồ Tá Khanh viết năm 1984 tại Pháp, Lê Thị Kinh, sđd, tập1, q.1, tg. 69.

    [14] Theo Phạm Quỳnh, là với mục đích quảng bá ảnh hưởng Pháp, lôi cuốn sinh viên Trung Hoa và các nước Á Châu sang học, thay v́ đi du học Mỹ.

    [15] Thư gửi cho nhà cầm quyền Pháp.

    [16] Lê Thị Kinh, sđd, trang 135.

    [17] Nguyễn Hiến Lê viết: "Cụ Tây Hồ là người mở đường cho phong trào duy tân ở nước nhà. Lập Nghiă thục, một phần công lớn là của cụ, gây tư tưởng mới ở Quảng Nam là cụ, đi khắp nơi diễn thuyết là cụ, khuyên quốc dân cắt tóc là cụ, liệng cái phó bảng mà ra lập hiệu buôn cũng là cụ, bỏ tục nhuộm răng, vận Âu Phục bằng nội hoá th́ người đầu tiên cũng lại là cụ" (Đông Kinh nghiă thục, Lá Bối, Sài G̣n, 1968, trang 85).

    [18] Nguyễn Văn Vĩnh ghi số 10 Hàng Đào, Nguyễn Hiến Lê ghi số 4 (chắc ông Lê nhầm).

    [19] Nguyễn Hiến Lê viết: "Sự thực là có một sự phân công giữa các nhà Nho thời đó và hai phái Duy Tân và Bạo Động nhắm chung một đích, bổ túc lẫn nhau. Các cụ hẹn với nhau cứ sáu tháng lại khai hội một lần" (trang 43).

    [20] Nguyễn Văn Vĩnh, Bản điều trần gửi toàn quyền về Đông Kinh Nghiă Thục, Lê Thị Kinh, sđd, trang 132.

    [21] Nguyễn Hiến Lê đoán có lẽ ít hơn, NHL, sđd.

    [22] Nguyễn Văn Vĩnh, tài liệu đă dẫn, Lê Thị kinh, sđd, trang134. Theo Nguyễn Hiến Lê: Giáo sư Hán Văn gồm có cụ Kép làng Hương Canh, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Quyền, Lương Trúc Đàm... Giáo sư Việt Văn, Pháp văn và Toán: Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học, Trần Đ́nh Đức, Bùi Đ́nh Tá, Phạm Đ́nh Đối...

    [23] Nguyễn Hiến Lê, sđd, trang 79.

    [24] Nguyễn Văn Vĩnh viết: "Rồi đă xẩy ra việc cảnh sát soát xét và t́m thấy 3 khẩu súng tại một trường ở Hà Đông (súng đă bị mất trong thành Hà Nội). Đông Kinh nghiă thục đă bị khám xét nhưng chỉ t́m thấy một số tranh và bản đồ của Nhật cùng một số sách chữ Tầu (...) Hôm sau ông Can được gọi đến toà Khâm sứ và được yêu cầu đóng cửa trường. Ông tŕnh bầy ǵ cũng không được. Ông chạy về hỏi tôi. Tôi khuyên ông trước hết cứ chấp hành lệnh trên đă, sau đó sẽ tŕnh bầy rơ hơn và có thể sẽ có lệnh ngược lại." (Bản điều trần gửi toàn quyền về Đông Kinh nghiă thục, bài đă đă dẫn).

    Nguyễn Hiến Lê cho biết các cụ đă đă đốt hết tài liệu từ những đêm trước.

    [25] Lê Thị Kinh, sđd, tập 1, quyển 3, trang 29.

    [26] Lư lịch Phan Văn Trường lập năm 1919, của Sở Mật Tham Trung Ương, Lê Thị Kinh, Phan Châu Trinh... Tập I, Quyển 3, trang 120-121.

    [27] Répétiteur d'Annamite.

    [28] Ecole des Langues Orientales.

    [29] Ecole des Hautes Études Sociales.

    [30] Saraut làm Toàn quyền Đông Dương từ 1911-1914 và từ 1917-1919, sau đó làm Bộ Trưởng Bộ Thuộc Địa.

    [31] Les revendications theo tiếng Việt ngày nay th́ phải dịch là Những yêu cầu, những đ̣i hỏi, nhưng trong bối cảnh tiếng Việt đầu thế kỷ XX, dường như chưa có chữ đó, và nếu có, cũng không thể ăn nói một cách "dân chủ" như thế, đối với người Pháp, chúng tôi dịch là Thỉnh nguyện theo Hoàng Xuân Hăn, v́ chữ này phù hợp với ngôn ngữ đầu thế kỷ và ngôn ngữ Phan Văn Trường trong bản Thỉnh nguyện thư Tám điểm 1919.

    [32] Đại uư

    [33] Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh, Phan Châu Trinh qua những tài liệu mới, Đà nẵng, 2001, tập1, q.4, trang 7.

    [34] Bản hỏi cung Nguyễn Như Chuyên ngày 8/4/1915, tại toà án Binh Pháp, được in lại trong Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp, của Thu Trang, Đông Nam Á, trang 59- 63.

    [35] Trong thế chiến, số thợ và lính từ Việt Nam sang Pháp khoảng 92.000 người.

    [36] Phương Lan-Bùi Thế Mỹ, Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh 1899-1943, Thúy Phương, Sài G̣n, 1970, trg 153.

    [37] Trước kia báo ra hàng tuần, bây giờ mỗi tuần hai lần.

    [38] Ngô Văn, Việt nam 1920-1945, L'Insomniaque, 2000, trang 64-65.

    [39] Báo và đảng của Nguyễn Thế Truyền ở Pháp.

    [40] Theo Nguyễn Văn Vĩnh, Trạng sư Phan Văn Trường từ trần, l'Annam Nouveau số 231 ngày 24/4/1933 và Đặng Hữu Thụ, Thân thế và sự nghiệp nhà cách mạng Nguyễn Thế Truyền, tác giả xuất bản, Melun, Pháp, 1993, trang 35-36. Trong bài viết, Nguyễn Văn Vĩnh ghi ông Trường mất đêm hôm nay (báo ra ngày 24/4/1933)

    [41] Trường này ở Joinville le Pont, ngoại ô Paris.

    [42] Alliances françaises là Liên Minh Pháp Ngữ, cơ quan truyền bá tiếng Pháp ở nước ngoài.

    [43] Vào đảng Cộng Sản khoảng 1922 khi ông bắt đầu viết cho tờ Le Paria.

    [44] Ngô Văn, sđd, trang 43.

    [45] Từ số 1 (1/1926) đến số 8 (8/1926).

    [46] Đặng Hữu Thụ, sđd, trang 279-281.

    [47] Cuốn sách được thám tử Durand nói đến trong phúc tŕnh ngày 7/1/1932.

    [48] Do một người ta điền, nhận tiền, lén nhét vào ngăn kéo nhà hai ông tài liệu Cộng sản và Cường Để (Đặng Hữu Thụ, trang 334).

    [49] Tiểu sử Nguyễn Thế Truyền viết theo Đặng Hữu Thụ, sđd.

    [50] Theo Phương Lan-Bùi Thế Mỹ, Hồ Hữu Tường và Lê Văn Thử.

    [51] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 131.

    [52] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, Nguyễn An Ninh (1899-1943) nhà cách mạng, Sài G̣n, 1970, trang 145.

    [53] Theo Ngô Văn v́ vụ Phạm Hồng Thái ném bom ở Sa Diện (tại khách sạn Victoria, đảo Sa Diện - Shamian, trên sông Châu Giang, Quảng Châu), giết hụt toàn quyền Merlin ngày 19/6/1924 và một số sự kiện khác. Theo Lê Văn Thử, v́ Thống đốc Cognacq t́m cách đóng cửa tờ báo nhưng không được, bèn sai lính kín hăm dọa chủ nhà in. (Hội Kín Nguyễn An Ninh, Nam Việt, 1949, trang 24).

    [54] Phương Lan Bùi Thế Mỹ viết: "Ninh thông minh, sáng suốt, nhận xét tinh tường. Nên mọi việc đều chuẩn bị chu đáo, hoạch định một cách có khoa học, là lần đầu về nước, đă phủ dụ được hai nhà cách mạng lăo thành, cụ Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường. Ninh sẽ nương hai cột trụ tiền bối mà cùng mở mang dân trí đ̣i chủ quyền dân chủ, tự do độc lập (...) Chương tŕnh hoạch định của Ninh là tại Hội Khuyến Học Nam Kỳ, Ninh tổ chức cho Phan Chu Trinh diễn thuyết về Luân lư Đông Tây, đến Phan Văn Trường nói về "Một chuyện người Việt âm mưu ở Ba Lê hay là sự thật về Đông Dương (Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou La Vérité sur l'Indochine). Tới Ninh nói về Cao Vọng Thanh Niên, Nền Quốc Học, cũng tại Khuyến Học Nam Kỳ. Rồi các bài diễn văn ấy, đều in lại thành sách đem phổ biến vào quần chúng, cùng in tại nhà in Xưa Nay, số 62-64 đường Bonnard, nay là nhà sách Khai Trí, đường Lê Lợi, vào năm 1926. Và chính Ninh lănh đi bán nào Luân Lư Đông Tây nào Conspirateurs Annamites... Cao Vọng Thanh Niên, Pháp Luật Lược Luận của Phan Văn Trường có câu chữ Hán trước b́a: Dân Vi Quư, Xă Tắc Thứ Chi, Quân Vi Khinh. Chính câu này có đăng dưới cái tên báo Chuông Nứt của Ninh" (sđd, trang 152-153).

    [55] Ngô Văn, trg 50, trích G. Garos, Forceries humaines, Paris 1926, trg 179.

    [56] Tác phẩm của Nguyễn An Ninh.

    [57] Điện tín kư André Hesse, do tổng giám đốc cơ quan An Ninh gửi từ Paris sang Hà Nội (Thu Trang, 231-232).

    [58] Theo Phương Lan Bùi Thế Mỹ: "Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh họp nhau cùng viết nhiều bài chỉ trích chính phủ Pháp, mà phần nhiều Ninh để cho Trường kư tên. Để Trường kư tên cho lợi mọi việc. V́ Trường vốn dân Pháp gốc Việt, nên có viết bài chỉ trích mạnh, Pháp không dám thẳng tay trừng trị như Ninh. Có một độ, bộ ba Trường, Ninh, Dejean de la Bâtie, đồng kư tên viết một bài tuyên bố trên mặt báo Chuông Nứt cho độc giả hay rằng bắt đầu từ hôm nay (26/11/1925), Phan Văn Trường sẽ thay Dejean làm giám đốc tờ Chuông Nứt, câu Organe de propagande des idées françaises bỏ đi, thay vào câu khác như thế này: Organe de propagande démocratique (cơ quan tuyên truyền dân chủ), và nhà in từ đường P. Flandin cũng rời luôn về toà soạn mới đường Espagne (số 273) giờ là đường Lê Thánh Tôn. Trước kia mỗi tuần một lần, giờ có sự hợp tác Phan Văn Trường, ra mỗi tuần hai lần, vào ngày thứ hai và thứ năm" (Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 153).

    [59] Đặng Hữu Thụ, Nguyễn Thế Truyền, trang 56-57.

    [60] PLBùi Thế Mỹ và Lê Văn Thử, bạn và đồng chí của Nguyễn An Ninh đều viết Ninh bị bắt ngày 21/3/1926. Cuốn Nguyễn An Ninh Tác Phẩm (Văn Học, 2009) ghi Ninh bị bắt 24 /3/1926 cùng ngày Phan Châu Trinh mất là sai.

    [61] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, trang 177.

    [62] Bạn ông, nhà báo nổi tiếng Bùi Thế Mỹ (chồng bà Phương Lan), mất ngày 27/3/1943. Cuốn sách Nguyễn An Ninh có lẽ phần lớn do Bùi Thế Mỹ viết.

    [63] Người tự do tuyệt đối.

    [64] Vô chính phủ.

    [65] Hồ Hữu Tường, 41 năm làm báo, Đông Nam Á, Paris, 1984, trang 13.

    [66] Phương Lan- Bùi Thế Mỹ, Nguyễn An Ninh, trang 41.

    [67] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, Nguyễn An Ninh, trang 245- 246.

    [68] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, Nguyễn An Ninh, trang 247, trích Bửu Liên, Hoà Đồng số ngày 14/8/1965, trang 6.

    [69] Tức Tạ Thu Thâu.

    [70] Tức Nguyễn Văn Trấn hay Bẩy Trấn và Trần Văn Giầu.

    [71] Phương Lan Bùi Thế Mỹ, Nguyễn An Ninh, trang 250-253.

  4. #2434
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật.

    Chỗ nào ông muốn viết hoặc chỉ thị cho viết, chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rơ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận ḿnh là tác giả những công tŕnh không phải của ông.
    Trong phạm vi khảo luận này, chúng tôi chỉ chú ư đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến 1923. Thời gian này, ông tự nhận là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo kư tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đă xây dựng nên tên tuổi và huyền thoại Hồ Chí Minh.

    Thật vậy, về Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tường Bách, em Nhất Linh Nguyễn Tường Tam viết: "Ngày 2/9 chính phủ Hồ Chí Minh làm lễ tuyên thệ độc lập ở Quảng trường Ba Đ́nh. Tôi đă biết từ lâu Hồ Chí Minh ngày nay là Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi vẫn khâm phục như một nhân vật thần kỳ thời thiếu niên. Éo le là vận mệnh đă làm cho tôi đứng vào hàng ngũ đối lập"[1].

    Đặng Thai Mai cũng viết tương tự: "Chúng tôi được đọc báo Nhân Đạo và những tờ báo Bác Hồ viết ở Pháp như tờ Le Paria. Chúng tôi nhận những sách báo đó qua cụ Ngô Đức Kế, lúc đó đang làm báo Hữu Thanh (...) Kể từ những năm 1925 trở đi, chúng tôi hiểu được Liên Xô hơn v́ được đọc các báo Việt Nam Hồn, Le Paria, L'Humanité, do Thủy thủ Pháp, đảng viên đảng Cộng Sản đưa vào Sài G̣n"[2].



    ● Một tiểu sử đầy nghi vấn

    Cuối lá thư đề Marseille ngày 15/9/1911, gửi Tổng thống Pháp, xin học trường Thuộc địa, ghi sinh năm 1892 ở Vinh. Một mật báo ghi Nguyễn sinh ngày 24/1/1892. Một mật báo khác ghi 15/1/1894. Hộ chiếu vào Nga năm 1923, theo Hồng Hà, ghi 15/1/1895.

    C̣n ngày sinh chính thức 19/5/1890, có từ năm 1946, theo Nguyễn Thế Anh, có thể là ngày kỷ niệm thành lập Mặt Trận Việt Minh, 19/5/1941[3]. Daniel Hémery cho rằng chọn năm sinh chính thức 1890 -thay v́ 1895 hay 1898- chỉ có mục đích phục vụ huyền thoại: 1890 tính đến 1945 là đă ngoại ngũ tuần, đáng được gọi bằng Bác.
    Năm Nguyễn Tất Thành từ Anh sang Pháp cũng thế, theo Hémery, Thành đến Pháp năm 1919, nhưng lại chọn năm 1917, v́ năm này có những mốc lịch sử gắn liền: những cuộc binh biến trong quân đội Pháp và cuộc cách mạng tháng 10 của Nga[4].

    Tiểu sử chính thức của Hồ Chí Minh được rút ra từ ba cuốn hồi kư Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên, được coi là chính Hồ Chí Minh viết. Cuối sách này đề (viết xong) Mùa xuân năm 1948. Bản gốc, chữ Hán được in ở Thượng Hải năm 1949, dịch ra quốc ngữ và in ở Hà Nội lần đầu năm 1958.

    Cuốn thứ nh́: Vừa đi đường vừa kể chuyện của T. Lan[5], một bút hiệu khác của Hồ Chí Minh, in năm 1963.

    Và Cuốn thứ ba: Thời thanh niên của Bác Hồ, của Hồng Hà, nhà xuất bản Thanh Niên in năm 1976.

    Viết về thời gian ở Pháp, cuốn Trần Dân Tiên có một số đoạn tương đối thành thực hơn cả. Cuốn Hồng Hà sửa lại, đầy đủ và hợp lư hơn, nhưng nhiều đoạn thêm bớt khá lộ liễu.

    Lữ Phương nhận xét: "Cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên, viết từ năm 1948, đến nay đă in đi in lại đă có cả chục lần rồi. Cuốn sách này đă đóng vai tṛ hết sức đặc biệt đối với giới nghiên cứu, giảng dạy về Hồ Chí Minh trong chế độ cộng sản Việt Nam ; từ đó đến nay: nó được mọi người coi như là tác phẩm do chính Hồ Chí Minh viết về ḿnh dưới bút danh Trần Dân Tiên, một tài liệu được tác giả giới thiệu như một "tiểu sử trung thành, đúng đắn, sinh động, không thêu dệt, không bày đặt".

    Cuốn sách v́ thế đă thành một nguồn tham khảo căn bản, quan trọng nhất cho tất cả những công tŕnh biên khảo về Hồ Chí Minh: các sự kiện về cuộc đời hoạt động của ông đă được đương nhiên coi là chính xác, không thể nói khác, nói ngược lại"[6].

    Dựa vào sự kiện bà Lê Thị Kinh đă gặp ông Vũ Kỳ và kể lại rằng: "Chiều ngày 2 tháng 3 năm 1993, tôi đă được gặp ông Vũ Kỳ là thư kư riêng của Bác từ Cách Mạng Tháng Tám đến ngày Bác qua đời và đă cùng một số người quanh Bác là đồng tác giả cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" với bút danh Trần Dân Tiên", Lữ Phương đưa ra lập luận sau đây:

    "Không có ǵ ngăn cản người ta tin rằng cái "tiểu sử" dưới h́nh thức "truyện" ấy được chính Vũ Kỳ và những người cộng sự viết ra và kư là Trần Dân Tiên. Nhưng như vậy th́ lại gặp điều khó khăn phải giải thích tại sao cuốn sách tầm thường của một tác giả vô danh là Trần Dân Tiên ấy lại có thể trở thành một thứ tài liệu tham khảo vào bậc nhất về Hồ Chí Minh như đă xẩy ra, đặc biệt trong giới nghiên cứu, giảng dạy?

    Sự quan trọng ấy không thể nào có được nếu những ǵ đă viết về ông Hồ trong cuốn sách ấy không được chính ông xét duyệt (Vũ Kỳ là thư kư riêng của ông) và một cách nào đó đă làm cho người ta hiểu rằng chính ông đă muốn phổ biến cái "tiểu sử" có nội dung như vậy. Cuốn sách, do đó, dù có do Vũ Kỳ lấy tài liệu từ Hồ Chí Minh để viết hoặc do chính Hồ Chí Minh trực tiếp viết (hay đọc cho Vũ Kỳ viết), thiết tưởng ư nghiă cũng đều như nhau: Sự xuất hiện của nó là "cái cần thiết" cho nhu cầu cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh sau 1945"[7].


    Còn tiếp ...

  5. #2435
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    Tại sao lại cần thiết cho nhu cầu cách mạng của bản thân Hồ Chí Minh, Lữ Phương giải thích: "Sau 1945, Khi Nguyễn Tất Thành đă trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà với cái tên mới là Hồ Chí Minh (dân chúng chưa biết rơ lắm về lai lịch của cái tên này), 1948, đang ở chiến khu Việt Bắc kháng chiến chống Pháp:
    Phải tạo cho ḿnh h́nh ảnh một "đấng bậc trưởng thượng" kiểu Châu Á có uy tín vượt trội (...) một con người trong sạch, giản dị, hoà ḿnh vào quần chúng, được bạn bè khắp hoàn vũ mến yêu giúp đỡ , c̣n đồng bào trong nước th́ đặt h́nh lănh tụ lên bàn thờ và tôn xưng là "Cha già của dân tộc" v.v... Cuốn "tiểu sử" viết về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên đă biểu lộ rất rơ cái nhu cầu năm 1948 mà Hồ Chí Minh và cuộc cách mạng của ông đang muốn tạo ra cho phong trào yêu nước cộng sản trước t́nh h́nh mới - một lănh tụ tuyệt vời và chỉ có lănh tụ đó mới là tuyệt vời thôi!"[8]

    Lập luận của Lữ Phương rất sắc bén. Duy có một điểm: bản gốc cuốn "tiểu sử" là chữ Hán, in năm 1949, tại Thượng Hải, chắc chắn phải do Hồ Chí Minh viết - trừ khi Vũ Kỳ biết chữ Hán, nhưng điều này khó mường tượng: ông Hồ đọc cho Vũ Kỳ bằng tiếng Việt rồi Vũ Kỳ dịch sang tiếng Tàu! Ông Hồ viết chữ Hán v́ ông giỏi chữ Hán hơn quốc ngữ.
    Nhưng bản dịch quốc ngữ in năm 1958 tại Hà Nội, chắc phải do Vũ Kỳ và những người "quanh Bác" thực hiện, v́ tŕnh độ quốc ngữ của "Bác" không cao -xin xem bài Việt Nam Yêu Cầu Ca- không thể viết được cuốn "Những mẩu chuyện..." Lữ Phương có lư khi ông cho rằng Vũ Kỳ và những người "quanh Bác" đă góp phần trong bản quốc ngữ. So với bản chính Hán văn, sự khác biệt ra sao? Phải hỏi những nhà Hán học. Nhưng chắc bản Hán văn gần với lời ông Hồ hơn cả.

    Vậy cuộc đời "thật" của Nguyễn Tất Thành từ ngày rời nước năm 1911 đến năm 1923, đi Nga, như thế nào?
    Từ 1911 đến 1923, cuộc đời Nguyễn Tất Thành, có thể đă diễn ra như sau:

    Ngày 4/6/1911, Nguyễn Tất Thành rời Sài G̣n trên tàu L'Amiral Latouche-Tréville, thuộc Compagnies des Chargeurs Réunis - Công ty vận tải liên kết, chạy đường Hải Pḥng - Dunkerque, làm phụ bếp, lấy tên Văn Ba. Trên tàu gặp ông Bùi Quang Chiêu và được 2 người lính trẻ, giải ngũ, hồi hương, dạy đọc và viết tiếng Pháp. Ông Chiêu nói với Tất Thành: "Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn..."[9].

    Sổ hành tŕnh ghi: Ngày 5/6/1911 rời Sài G̣n; 6/7 đến Marseille; 15/7 tới Le Havre; 26/8/1911 đến Dunkerque[10]. Theo Trần Dân Tiên, tàu đến Le Havre để sửa chữa. Nhân viên được chuyển sang một chiếc tàu khác để trở về Đông Dương, nhưng anh Ba không muốn về, anh ở lại Le Havre, làm vườn cho ông chủ tàu tại Sainte-Adresse, ngoại ô Le Havre, trong khoảng một tháng, rồi lại tiếp tục lên tàu đi Phi Châu. Tại nhà ông chủ, anh Ba học tiếng Pháp với cô sen[11].

    Lê Thị Kinh viết: "Từ Dunkerque, tàu quay lại Sài G̣n và trên sổ lương của tàu có ghi: "Văn Ba đă lĩnh lương tại Sài G̣n ngày 16/10/1911". Ngày 31/10/1911 Tất Thành đă gửi một thư cho cha. Thư lọt vài tay mật thám và được chuyển cho khâm sứ Trung Kỳ"[12].

    Vậy Trần Dân Tiên giấu việc trở lại Việt Nam, bịa ra chuyện đi ṿng châu Phi để làm ǵ? Nếu không phải là để chứng minh muốn "đi xem các nước" để tính chuyện "giúp đồng bào" ngay từ 1911? Tất Thành lúc đó chưa thể bị "mật thám" theo dơi, v́ chưa có thành tích ǵ. Thành viết thư thẳng đến Ṭa Khâm, nhờ khâm sứ chuyển tiền cho cha, đồng thời viết thư cho anh là ông cả Đạt, đang làm việc tại Ṭa Khâm - Sẽ nói rơ hơn ở dưới. Trong các thư Tất Thành gửi cho cha hay cho toàn quyền, năm 1911-1912, c̣n kư cả tên Tây: Paul Tatthanh hay Paul Thành ... nữa, vậy khó có thể nói đến việc đi Tây "t́m đường cứu nước".


    Còn tiếp ...

  6. #2436
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    ● Đơn xin học trường Thuộc Địa

    Lá thư đề Marseille ngày 15/9/1911, gửi Tổng Thống Pháp xin vào nội trú trường Thuộc Địa được Henri de Turenne[13] phát hiện và công bố trên đài truyền h́nh Pháp trong chương tŕnh về Hồ Chí Minh, tháng 1/1982. Vũ Ngự Chiêu và Nguyễn Thế Anh chụp được hai bức thư viết tay giống hệt nhau: một gửi Tổng Thống Pháp và một gửi Bộ Trưởng Thuộc Địa[14] cùng về việc xin học.


    Daniel Hémery, cho rằng sự lựa chọn này là do Phan Châu Trinh dẫn dắt. Lê Thị Kinh, có lẽ do ảnh hưởng Hémery, đưa ra giả thuyết: Khi ở Sainte-Adresse: "Chắc chắn Người đă tranh thủ đến Paris gặp bác Phan, làm quen với những người quanh bác, và đặc biệt để bàn bạc với bác về hướng sống và học tập ... Và có thể không phải chỉ đến một lần". Và bà tiếp tục cho rằng nhân dịp này "Người" gặp Bùi Kỷ, đang học trường Thuộc Địa và Bùi Kỷ đă gợi ư và viết đơn giùm[15].

    Lập luận này không vững v́ nhiều lẽ: Tất Thành chỉ ở Le Havre từ 15/7/1911 đến 26/8 đă theo tầu lên Dunkerque. Phan Châu Trinh tới Paris ngày 27/4/1911, lúc đó chưa quen Phan Văn Trường -chỉ gặp ông Trường tháng 1/1912- và chưa chắc đă biết Bùi Kỷ ở đâu. Việc thông tin thời ấy không dễ dàng, Tất Thành vừa từ Sài G̣n sang, tiếng Pháp chưa biết, lạ nước lạ cái, mà cũng chỉ ở Le Havre hơn một tháng, làm sao đă t́m được địa chỉ của Phan Châu Trinh?

    Mà dù có địa chỉ cũng chưa chắc đă dám xin chủ nghỉ việc để về Paris nhiều lần thăm bác, v́ thời ấy di chuyển không dễ dàng như bây giờ. Hơn nữa, cả Trần Dân Tiên, Bùi Kỷ và Phan Châu Trinh đều không nói đến những cuộc gặp gỡ này. Vậy giả thiết "Bác" đă gặp Bùi Kỷ và Phan Văn Trường tại nhà Phan Châu Trinh không thể đứng vững.

    Ngoài ra, hầu hết các tư liệu đều chứng minh: Năm 1911 Tất Thành chưa có ư đồ hoạt động chính trị, chỉ muốn giúp cha và tiến thân. Sau cùng, nếu Bùi Kỷ viết đơn giùm Tất Thành, th́ cũng không gửi đơn xin học cho tổng thống và bộ trưởng, mà viết thẳng cho hiệu trưởng. Vậy người viết đơn giùm Tất Thành phải là người không có tŕnh độ cao lắm, làm việc cùng với Tất Thành ở Công Ty Vận Tải tại Marseille, Le Havre hay Dunkerque, hoặc một sự quen biết nào khác. Ngày 21/10/1911, ông hiệu trưởng trường Thuộc Địa viết thư trả lời từ chối, chỉ nhận những người đă học và được toàn quyền tuyển chọn tại Đông Dương[16].

    Lữ Phương dựa theo tài liệu của Hémery, thuật lại những sự kiện: khi tàu ghé Sài G̣n giữa tháng 10/1911, ngày 31/10/1911, Tất Thành viết thư gửi khâm sứ Trung Kỳ nhờ chuyển cho cha mandat 15 đồng Đông Dương và viết thư cho anh là ông cả Khiêm -Nguyễn Sinh Khâm hoặc Nguyễn Tất Đạt- đang giúp việc vặt tại Toà Khâm Sứ Trung Kỳ, nhờ vận động xin vào Ecole Coloniale. Việc này cũng thất bại.

    Theo lời khai của ông Bùi Quang Chiêu với mật thám Sài G̣n ngày 21/9/1922, th́ khi gặp trên tàu, Tất Thành nói với ông mục đích sang Pháp là để xin khiếu nại cho cha vừa bị băi chức, và muốn đến ở nhà thuyền trưởng Do Huu Chan đang làm việc ở Marseille để nhờ ông giúp đỡ trong việc khiếu nại đó[17].

    Xin nhắc lại: "Nguyễn Sinh Huy đậu phó bảng năm 1901; năm 1906 vào Huế nhậm chức thừa biện Bộ Lễ; 1909 được cử làm tri huyện B́nh Khê (tỉnh B́nh Định), nhưng chỉ 7 tháng sau, tháng 1/1910, th́ bị băi chức và bị triệu về Huế. Lư do: theo sở mật thám ông đă uống rượu say và đánh chết người"[18].

    Vậy việc khuyên Tất Thành xin vào trường Thuộc Địa và viết đơn giùm có thể là thuyền trưởng Đỗ Hữu Chân -hay Chấn- làm. Cũng không loại trừ khả năng chính ông Bùi Quang Chiêu đă nghĩ ra, v́ thương Tất Thành là con quan -ông Chiêu đă dạy ông Nguyễn Sinh Huy về nông nghiệp- phải làm việc trên tàu cực khổ, nên đă giới thiệu Thành với ông Đỗ Hữu Chấn và nhờ ông Chấn giúp đỡ, v́ ông Chấn ở cùng công ty hàng hải. Đơn xin học đề ngày 15/9/1911 ở Marseille, đúng là thời gian tàu ghé Marseille trên đường về Sài G̣n.
    Ngày 16/10/1911, Văn Ba lĩnh lương tại Sài G̣n. Tất cả ăn khớp v́ đường Thủy Marseille - Sài G̣n là một tháng. Tại Sài G̣n, Tất Thành lại nhờ anh, ông Đạt, viết thư gửi khâm sứ và toàn quyền, xin vào trường Thuộc Địa một lần nữa, nhưng vẫn bị từ chối. Từ đây, Tất Thành phải chấp nhận nghề thủy thủ.

    Theo Hémery, từ 1912 tới mùa hè 1914, Tất Thành vẫn dùng tên Ba, tiếp tục làm bồi, phụ bếp, hoặc phu khuân vác trên những tàu xuyên Đại Tây Dương, chạy đường Le Havre - Londres - New York, hoặc Châu Phi - Châu Mỹ.

    Từ 1914 đến 1919, bỏ việc trên tàu, sống tại Luân Đôn với tên Nguyễn Tất Thành, ở số 8 Tottenham Road. Hémery cho rằng trong thế chiến, Tất Thành không sang Pháp v́ sợ có thể bị gọi đi quân dịch. Làm việc tại khách sạn Carlton, rửa bát, rồi phụ bếp. Học tiếng Anh và h́nh như buổi tối có học thêm Máy móc (Mécanique) và Điện.
    Trao đổi thư từ với Phan Châu Trinh bằng Hán văn. Giữa tháng 6/1919, sang Paris. Hoạt động trong nhóm An Nam Yêu Nước. Ngày 27/12/1920, khai mạc hội nghị Tours của đảng Xă Hội (SFIO), Nguyễn Tất Thành xuất hiện công khai với tên Nguyễn Ái Quốc. Ngày13/6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật đi Nga, tới Moscou ngày 30/6/1923. Tháng 2/1925, Lư Thụy xuất hiện ở Quảng Đông, t́nh báo Trung Hoa nhận diện là Nguyễn Ái Quốc. Thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mệnh Đồng Chí Hội.


    Còn tiếp ...

  7. #2437
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    ● Tŕnh độ học vấn

    Theo năm sinh chính thức 1890, th́ khi xuống tàu đi Pháp năm 1911, Tất Thành 21 tuổi.

    Từ điển Văn học và các tiểu sử chính thức khác đều ghi: thủa nhỏ học chữ Hán rồi quốc ngữ, sau vào Quốc Học Huế. Đầu năm 1911, bỏ học vào Phan Thiết dạy trường Dục Thanh, ít lâu sau vào Sài G̣n, rồi từ Sàig̣n "xuất dương t́m đường cứu nước".

    Daniel Hémery viết: "Theo lời khai của Đạt (anh cả của Thành) với Sở Mật thám năm 1920, th́ Thành học trường bảo hộ (franco-indigène), dường như Đông Ba, đậu bằng Tiểu học (Certificat d'études primaires). Cả hai ghi tên vào trường Quốc học (...) nhưng Thành học dở dang, bỏ đi làm (khoảng 1909?), làm trợ giáo, lương 8 đồng một tháng, ở trường Dục Thanh tại Phan Thiết"[19].

    Hémery ghi rơ học trường Pháp-Việt, c̣n đậu cả bằng Certificat d'études primaires. Nếu chi tiết này đúng, tức là Nguyễn Tất Thành đi học đến năm 19 hoặc 21 tuổi, và nếu có Certificat d'études primaires, tất phải biết tiếng Pháp.

    Nhưng Trần Dân Tiên viết ngược lại: Ở tàu Latouche-Tréville "mỗi ngày anh Ba phải làm từ 4 giờ sáng", "công việc kéo dài suốt ngày", "suốt ngày anh Ba đẫm nước, hơi và mồ hôi, ḿnh đầy bụi than", buổi tối có hai người lính giải ngũ về Pháp, tốt bụng, "dạy cho anh đọc và viết". Và khi làm vườn cho ông chủ tàu ở Sainte-Adresse, "anh học tiếng Pháp với cô sen"[20]. Một người đă có bằng Certificat d'études primaires không thể không biết đọc và viết tiếng Pháp, mà phải học tiếng Pháp với cô sen.

    Nhưng cũng không có lư ǵ mà Hồ Chí Minh viết sai về chuyện này, nhất là ông lập lại nhiều lần rằng khi đến Pháp ông không rành tiếng Pháp, không viết được tiếng Pháp, phải nhờ Phan Văn Trường viết hộ.

    Tại sao có nghịch lư này? Xin tạm giải thích như sau: Trong lá thư từ chối đơn xin học của Nguyễn Tất Thành[21], ông hiệu trưởng trường Thuộc Địa nói rơ lư do: Trường chỉ nhận những học sinh đă học ở Đông Dương và do toàn quyền Đông Dương quyết định. V́ vậy, khi về qua Sài G̣n, Tất Thành mới viết thư cho ông cả Đạt, nhờ ông viết thư cho khâm sứ và toàn quyền, để xin cho em ḿnh vào học trường Thuộc Địa. Trong hai lá thư này, để có trọng lượng, chắc ông Đạt khai là em ḿnh đă học các trường Pháp Việt Đông Ba và Quốc Học ... V́ vậy, năm 1920, khi Nguyễn Tất Thành đă "nổi danh" là Nguyễn Ái Quốc, sở Mật Thám gọi ông Đạt lên hỏi cung, ông giữ nguyên lời khai cũ.

    Tóm lại, vấn đề học vấn của Nguyễn Tất Thành, phần chữ Hán là chắc chắn, v́ cha là phó bảng Nguyễn Sinh Huy, bạn của Trần Quư Cáp, Phan Châu Trinh ... C̣n việc học ở các trường Đông Ba, Quốc Học, dường như không lấy ǵ làm chắc lắm.


    Còn tiếp ...

  8. #2438
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    ● Nguyễn Tất Thành đến Paris

    1/ Trong thời gian ở Anh, Nguyễn Tất Thành có trao đổi thư từ với Phan Châu Trinh, gọi cụ Phan là Hy Mă nghi bá đại nhơn - Hy Mă là tên hiệu của Phan Châu Trinh, nghi bá là bác kính- tự xưng là cuồng điệt Nguyễn Tất Thành -cuồng điệt là người cháu hăng say. V́ Phan Châu Trinh bị theo dơi rất kỹ, loạt thư này không qua mắt được mật thám, đó cũng là một trong những lư do xác định khoảng 1914-1918, Nguyễn Tất Thành sống ở Luân Đôn.

    2- Theo Thu Trang, mật thám t́m thấy thẻ thư viện mang tên Nguyễn Ái Quốc, ghi năm 1919[22]. Chứng này không đáng tin, v́ thẻ thư viện, cũng như thẻ sinh viên, phải đề đầy đủ họ và tên thật Nguyễn Tất Thành, hoặc chỉ đề họ Nguyễn, chứ không thể đề tên hiệu Nguyễn Ái Quốc. Việc này có thể do mật thám nh́n thấy thẻ có tên Nguyễn, rồi bịa thêm thành Nguyễn Ái Quốc để lấy điểm.

    3- Về thời điểm sang Pháp, Trần Dân Tiên viết:

    Thế giới đại chiến bùng nổ. (....) Anh Ba đến nói với tôi: "Xin từ biệt anh Nam".

    - Anh đi đâu?

    Tôi đi Pháp (...)

    Sau khi rời Luân Đôn, anh Ba viết thư cho tôi. Đại ư thế này:

    "Tôi đă gặp nhà ái quốc Phan Châu Trinh. (...) Tôi cũng gặp luật sư Phan Văn Trường và những người khác. Tôi nói với họ: Trong khi vua Duy Tân nổi dậy ở Huế, nhân dân Thái Nguyên và nhiều nơi khác khởi nghiă, th́ chúng ta phải làm ǵ chứ?"[23]

    Trích đoạn trên đây cho thấy, "lần sang Pháp vào lúc đại chiến bùng nổ" Tất Thành mới gặp Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường. Nhưng lại có mâu thuẫn: Đại chiến thứ nhất bùng nổ năm 1914. Vua Duy Tân nổi dậy, 1916 và khởi nghiă Thái Nguyên, 1917. Vậy nếu Tất Thành sang Paris khi đại chiến bùng nổ vào năm 1914, th́ làm sao biết được những biến cố xẩy ra năm 1916 và 1917?

    Tại sao phải nói bừa như vậy?

    Đọc đoạn Trần Dân Tiên viết về Hội Nghị Hoà B́nh Versailles 1919, chúng ta có thể hiểu lư do:

    "Họ đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, người ta thấy có ông Nguyễn Ái Quốc (tức là anh Ba). (...) Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Pa-ri và ở các tỉnh Pháp. Với danh nghiă của tổ chức này, ông đă đưa những yêu cầu ra trước hội nghị Véc-Xây (...) Cũng nên nhắc lại ư kiến đưa yêu cầu do ông Nguyễn đề ra nhưng lại do luật sư Phan Văn Trường viết, v́ lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. Cũng nên nhắc lại là ông Phan Châu Trinh và ông Phan Văn Trường không tán thành hoạt động của nhóm Việt Nam Yêu Nước, v́ các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con"[24].

    Trần Dân Tiên nhận ḿnh đă "tổ chức nhóm người Việt Nam Yêu Nước ở Paris và ở các tỉnh", là nói bậy. Về bản Thỉnh Nguyện Thư th́ viết đúng: luật sư Phan Văn Trường viết, v́ lúc bấy giờ ông Nguyễn chưa viết được tiếng Pháp. C̣n câu: "các ông ấy cho nhóm thanh niên là trẻ con" nên hiểu: hai ông Phan thuộc lớp già, chê lớp trẻ: Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành là trẻ con.

    Tóm lại, đoạn "anh Ba đi Pháp khi đại chiến thế giới bùng nổ" sở dĩ có nhiều chỗ vô lư, v́ nó được viết ra với hậu ư chứng minh rằng:

    - Chính Nguyễn Tất Thành đă dựng nên nhóm Người An Nam Yêu Nước.

    - Chính Nguyễn Tất Thành là tác giả những bài báo kư tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

    - Chính Nguyễn Tất Thành chủ động đưa ra ư kiến về bản Thỉnh Nguyện Thư ở Hội nghị Hoà B́nh Versailles 1919.

    - Và Nguyễn Tất Thành viết được những bài báo kư tên Nguyễn Ái Quốc là do đă ở Pháp từ 1914 và đă hết sức cố gắng học tiếng Pháp.

    Xin nhắc lại: Khi Nguyễn Tất Thành đến Pháp -sẽ được xác định vào tháng 6/1919- Hội Nghị Hoà B́nh Thế Giới đă khai mạc từ 18/1/1919 ở Versailles, tức là nửa năm trước, và nhóm An Nam Yêu Nước đă hoạt động từ khoảng 1916. Vậy Nguyễn Tất Thành không thể "tổ chức" nhóm An Nam Yêu Nước và cũng không "đề ra những yêu cầu" ở Versailles. Tất Thành chỉ là người được nhóm An Nam Yêu Nước chỉ định đem bản Thỉnh Nguyện Thư Của Người An Nam đến Hội Nghị Hoà B́nh Versaillles.


    Còn tiếp ...

  9. #2439
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    Hội Nghị Hoà B́nh (Conférence de la Paix) do khối đồng minh thắng trận đại chiến thứ nhất tổ chức, khai mạc ở Versailles ngày 18/1/1919 và kết thúc tháng 8/1920.

    Ủy ban tối cao gồm các nước Mỹ, Pháp, Anh, Ư, Nhật.

    Hội nghị bàn nhiều vấn đề, chủ yếu như:

    - Sự cáo chung của Đế quốc Đức, đế quốc Áo-Hung, đế quốc Ottoman.

    - Xây dựng ba nhà nước ở Âu châu: hồi sinh nước Ba Lan (Pologne), tạo ra các nước mới: Tchécoslovaquie và Yougoslavie.

    - Thuộc địa Đức được lấy lại để chia cho Anh, Pháp, Bỉ, Nam Phi, Mỹ và Nhật.

    - Đức phải bồi thường chiến tranh.

    Bên lề hội nghị c̣n có những vấn đề:

    - Nguyên tắc b́nh đẳng giữa các giống người.

    - Hội nghị về Châu Phi tại Paris tháng 7/1919.

    Ngày 8/1/1918, Tổng thống Mỹ đọc một diễn văn quan trọng tại Nghị Viện Hoa Kỳ, chủ yếu gồm 14 điểm, mà hội nghị Versailles sẽ lấy làm nền để bàn luận, nội dung nằm trên hai nguyên tắc: Dân tộc tự quyết và Tự do hoà b́nh.

    Wilson được giải Nobel Hoà B́nh năm 1919.

    Đối với Việt Nam và các dân tộc bị trị trên thế giới, chủ trương của tổng thống Wilson sẽ là cơ hội và nền móng cho các chuyển động đ̣i độc lập.

    Tuyên bố Wilson đi đôi với những cuộc tranh luận về vấn đề thuộc địa ở nghị viện Pháp, tiếp đó, nền chính trị thuộc địa được bàn căi rộng răi ở Hà Nội từ ngày 24/4/1919 với bài diễn văn cởi mở của toàn quyền Albert Sarraut, thuộc đảng Xă Hội, đề ra khái niệm "công dân bản xứ" (citoyens indigènes), một thứ "quyền chính trị mở rộng cho người dân bản xứ" (une extension sensible de leurs droits politiques dans la cité indigène), và sau cùng là Hội Nghị các vấn đề Châu Phi tháng 7 năm 1919.

    Tất cả những biến cố này đă góp phần củng cố các phong trào đ̣i độc lập và hoà b́nh của các nước bị trị.

    Bản Thỉnh Nguyện Thư của Phan Văn Trường đưa ra giữa tháng 6/1919, là lúc cao trào mọi chuyển động. Phan Văn Trường dùng hai nguyên tắc chủ yếu của Wilson là Dân tộc tự quyết và Tự do hoà b́nh làm nền tảng cho việc đ̣i hỏi tự do dân chủ của nước ḿnh.

    Theo Daniel Hémery trong cuốn Ho Chi Minh de L'indochine au Vietnam[25], dựa vào tư tưởng chống thực dân của tổng thống Mỹ, mùa thu năm 1918, trước khi Hội Nghị Hoà B́nh họp, nhóm Tunisie và Algérie đă cho in Bản tuyên ngôn của Ủy ban Tunisie và Algérie tại Hội Nghị Hoà B́nh, và Hội những người lao động Trung hoa ở Pháp, những người Ái Nhĩ Lan, Hội những người Triều Tiên cũng đă phát hành những tờ báo hoặc những bản công bố. Một trong những bản thỉnh nguyện đầu tiên của người Việt Nam đ̣i độc lập là của cựu hoàng Duy Tân, bị đầy từ năm 1916.

    Trong chiến tranh, Pháp đă tập trung 900 ngàn người ở các thuộc địa đến Pháp để đánh giúp, trong đó có 92 ngàn người Việt Nam[26]. Số lính thợ di dân tạo nên những phong trào yêu nước chống Pháp của người dân các thuộc địa như Tunisie, Algérie ... và Việt Nam với nhóm An Nam Yêu Nước của Phan Văn Trường. Trong bối cảnh tổng thống Wilson tuyên bố chống lại chính sách thuộc địa, Hội Nghị Hoà B́nh Thế Giới là cơ hội hiếm có để tiếng nói của các nước bị đô hộ vùng lên, và nhóm Yêu Nước đă nhắm đúng thời cơ để công bố bản Thỉnh Nguyện Thư tám điểm, kư tên Nguyễn Ái Quấc.


    Còn tiếp ...

  10. #2440
    Tran Truong
    Khách

    Nguyễn Tất Thành _ Chương 16

    ● Xác định ngày Nguyễn Tất Thành đến Paris

    1/ Việc Tất Thành sang Pháp năm 1914, quá khó tin; cho nên trong cuốn Thời thanh niên của bác Hồ[27], Hồng Hà (được lệnh) sửa lại như sau:

    "Anh bỏ nghề phụ bếp ở Luân Đôn, sang Pháp, đấy là vào cuối năm 1917"[28].

    "Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh[29] một phố yên tĩnh của quận 13. Đây là nhà của luật sư Phan Văn Trường. Cùng ở có cụ Phan Châu Trinh mà anh Nguyễn Ái Quốc có thư từ thăm hỏi luôn khi anh c̣n ở Luân Đôn. Ông Trường nhường cho anh một buồng con trên gác ba, vừa đủ kê một cái bàn, một cái giường và một cái tủ con.
    Dạo ấy, nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh là một trung tâm gặp gỡ của nhiều Việt kiều ở Pa-ri. Có khi bà con đến chơi ăn ở liền mấy ngày (...) Cụ [Phan Châu Trinh] làm nghề ảnh tư ngay tại nhà số 6. Để sống, anh Nguyễn - cả người Việt lẫn người Pháp quen gọi anh Nguyễn Ái Quốc như thế - cùng với một kiều bào khác là Tuyết giúp việc cho cụ Phan đồng thời học nghề rửa ảnh và phóng đại ảnh.

    Cụ Phan là một nhà yêu nước chân thành, nổi tiếng ở Việt Nam và nước ngoài. Cụ hơn anh Nguyễn 19 tuổi, c̣n ông Trường vốn là thông ngôn, học đến tiến sĩ luật học, làm nghề luật sư ở Pa-ri. Ông giỏi tiếng Pháp, vào quốc tịch Pháp, có nghiên cứu chủ nghiă Mác, quen biết nhiều trí thức và nhà chính trị Pháp. Điều mà anh Nguyễn băn khoăn hỏi hai người lúc đó làm ǵ cho đất nước trong khi đồng bào khao khát cách mạng th́ không được trả lời thoả đáng, rơ ràng. Anh Nguyễn vừa làm nghề rửa ảnh vừa chăm chỉ học thêm tiếng Pháp với ông Trường"[30].

    Trích đoạn này cho ta một số thông tin rất đáng lưu ư. Đặc biệt câu: "Vừa tới Pa-ri, anh Nguyễn Ái Quốc đến ở nhà số 6 phố Vi-la đề Gô-bơ-lanh". Chính câu này đă xác định, một lần nữa, ngày tháng Nguyễn Tất Thành đến Paris: Bởi v́ căn nhà số 6, ngơ cụt Gobelins, Phan Văn Trường chỉ ở sau giải ngũ, tức là từ tháng 4/1919, khi ông về sống tại Paris[31].

    Tóm lại, nếu Nguyễn Tất Thành đến Paris ở ngay nhà Phan Văn Trường, 6 Villa des Gobelins, th́ chỉ có thể là sau tháng 4/1919, thời điểm Phan Văn Trường đă giải ngũ, lên Paris và trước khi Nguyễn Tất Thành đem bản Thỉnh Nguyện đến Versailles, giữa tháng 6/1919.


    2/ Một mật báo của Pierre Guesde - tổng thanh tra quân đội Đông Dương và người Đông Dương- Contrôleur général des troupes indochinois et des Indochinois chắc là chức vụ t́nh báo cao nhất về vấn đề Đông Dương, thời đó - không đề ngày, nhưng chắc là cuối năm 1919, ghi như sau:

    "Người có tên gọi là Nguyễn Ái Quốc, 27 tuổi, quê ở Đông Dương. Anh ta đă từ Luân Đôn (Anh) đến Paris hồi tháng 6 vừa qua, ở một ḿnh từ ngày 7 đến ngày 11/6/ tại số nhà 10 phố Stockholm, rồi từ ngày 12/6 đến ngày 13/7 vừa qua tại 56 Monsieur Le Prince. Sau đó, anh ta cư trú tại 6 Villa des Gobelins, ở với người đồng hương có tên là Phan Văn Trường sinh năm 1878 ở Hà Nội (Bắc Kỳ), luật sư toà Phúc Thẩm Paris"[32].

    Mật báo này có lẽ là nguồn mà Sophie Quinn-Judge trích dẫn trong bài viết của bà, để xác định Tất Thành từ London đến Paris ngày 7/6/1919.

    Tóm lại, theo tổng thanh tra Guesde: Tất Thành đến Pháp ngày 7/6/1919. Ở số 10 Stockholm từ 7/6 đến 11/6. Ở 56 Monsieur Le Prince từ 12/6 đến 13/7. Và từ 14/7/1919 đến ở 6 Villa des Gobelins. Được ông Khánh Kư dạy cho nghề rửa ảnh.

    Vậy có thể xác định chắc chắn rằng: Nguyễn Tất Thành đến Pháp ngày 7/6/1919. Kết hợp mật báo của Pierre Guesde và các sự kiện khác, tất cả đều ăn khớp.

    Nguyễn Tất Thành ở nhà số 6 Villa des Gobelins của Phan Văn Trường trong hai năm, từ tháng 6/1919 đến ngày 14/7/1921 mới dọn tới số 9, Impasse Compoint, khu 17.

    Đây là khu phố nghèo dành cho thợ thuyền, gần ngoại ô phía Bắc Paris, Tất Thành tiếp tục nghề ảnh ở một cửa hiệu gần nhà. Ngày 14/3/1923, Tất Thành dọn về trụ sở báo Le Paria, số 3 Marché des Patriaches[33], ở được ba tháng đến 13/6/1923, lên đường đi Nga.

    Khi đă xác định được đúng thời điểm Nguyễn Tất Thành đến Pháp, ta có thể đi sâu hơn nữa vào các tổ chức Việt kiều, vào sự phát sinh cái tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và những công tŕnh Hồ Chí Minh nhận là của ông nhưng lúc đó ông chưa có mặt tại Paris.


    Còn tiếp ...

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 16 users browsing this thread. (0 members and 16 guests)

Similar Threads

  1. Chuyện nghe được từ ngướ không quen
    By Dac Trung in forum Tin Việt Nam
    Replies: 1
    Last Post: 10-10-2012, 12:25 AM
  2. Replies: 0
    Last Post: 03-05-2012, 10:37 PM
  3. Bắt Buộc Phải Nghe
    By Dean Nguyen in forum Tin Việt Nam
    Replies: 2
    Last Post: 19-01-2012, 08:34 PM
  4. Replies: 3
    Last Post: 31-07-2011, 05:33 PM
  5. Tưởng Niệm Tháng 4 Đen Nghe Nhạc Lính VNCH
    By Camlydalat in forum Giao Lưu - Giải Trí
    Replies: 18
    Last Post: 25-04-2011, 06:28 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may not post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •