+ Reply to Thread
Page 14 of 14 FirstFirst ... 41011121314
Results 92 to 96 of 96

Thread: MIỀN TRUNG THƯƠNG NHỚ

  1. #92
    Tran Truong
    Khách

    Người con gái Duy Xuyên -- Hương Thủy ( Tiếp theo )

    Hạnh xuất hiện trong bộ đồ hoa màu tím nhạt. Em mừng rỡ “a” lên một tiếng rồi sà xuống bên cạnh tôi, th́ thào “Em nhớ anh quá!”.Mùi hương chanh và mùi tươi mát của da thịt con gái nồng nàn bốc lên nhưng quả thật tôi không c̣n ḷng dạ nào để rung động. Tôi đẩy nhẹ người Hạnh ra. Nàng hơi khựng lại rồi hỏi tôi : “Anh đến lâu chưa ? Sao anh biết má vắng nhà ?”. Tôi trả lời “Do t́nh cờ vậy thôi”.

    Những cảm xúc trong tôi đă bị dội một thùng nước lạnh. Đầu tôi rộn lên nhiều câu hỏi khó trả lời. Hạnh không giấu sự vồ vập và hé môi chờ đợi một nụ hôn say đắm nhưng tôi chỉ chạm phớt vào môi. Nụ hôn lần này sao nghe vị đắng chát. Tôi có cảm tưởng bị lừa dối, thậm chí hơi sợ hăi. Có lư nào cô ấy đang giăng bẫy tôi, một chàng Sinh viên Vơ Bị, một Sĩ Quan quân lực VNCH tương lai ?

    Người hàng xóm qua chơi kéo tôi thoát khỏi sự khó xử. Lấy cớ phải về họp gấp, tôi từ giă Hạnh trong nét mặt phụng phịu của nàng.Tôi đang cần thời gian để suy nghĩ.
    Đêm hôm ấy tôi trằn trọc măi. Gói Capstan gần hết dù tôi không phải là thằng nghiện thuốc lá.Tôi đă hiểu ra thái độ lạnh nhạt của má và bà ngoại nàng. Tôi tự vấn xem có khi nào Hạnh hỏi ḿnh về lĩnh vực quân sự chưa? Có khi nào ḿnh sơ suất tiết lộ điều ǵ chăng. Rơ ràng tôi yêu Hạnh nhưng phương châm của trường Mẹ đă khắc sâu “Tổ Quốc - Danh Dự -Trách Nhiệm”. Tôi thiếp đi với điều tâm niệm thứ tám trong Mười Điều Tâm Niệm của SVSQ/TVBQGVN : “Không có ǵ là không thể làm được đối với SVSQ”.



    Tuần sau đó tôi nằm mẹp trong Chi khu. Hai lần có lời nhắn của cô Dung ra quán sách nhưng một lần tôi cáo ốm và một lần kêu bận công tác. Tôi không đủ can đảm để gặp Hạnh. Tôi sợ ḿnh sẽ bị lung lay bởi đôi mắt ướt và cái nốt ruồi như hạt đậu đỏ cuối chân mày.

    Rồi cũng đến ngày từ giă Duy Xuyên. Hạnh gởi qua Kim Long cho tôi một túi nhỏ gồm những mứt bánh thổ sản, sáu chiếc mouchoir có hai chữ H lồng nhau và lá thư chỉ có một ḍng “Em yêu anh măi măi”.Tôi nhếch môi cười cay đắng, đem mớ quà cho bạn bè liên hoan, sáu cái khăn tay tôi để lại trên cái ghế bố ngủ đêm ở Chi khu và xé bức thư thành những mảnh nhỏ.

    Ngày leo lên chiếc GMC ra phi trường quân sự Đà Nẵng, đưa mắt nh́n quanh, tôi nhận ra Hạnh đứng nép sau một cây phượng lớn. Em nh́n tôi, môi mấp máy điều ǵ không rơ. Thôi đành. Vĩnh biệt mối t́nh đầu oái oăm !



    Về lại trường, chúng tôi chúi mũi vào học Văn hóa bù lại cho chuỗi ngày công tác. Sự bân rộn làm tôi không nghĩ ngợi nhưng khi đêm về tôi luôn nhớ đến Hạnh và những cái hôn mềm môi ướt rượt. Tôi nhận gác thay cho đồng đội ở Tiền đồn hoặc Đài tử sĩ mà không chút phân vân. Quên, quên và phải quên.

    Nhưng bất ngờ thay, tôi trở thành người nổi tiếng của Đại đội v́ những lá thư dồn dập bay về. Nét chữ màu tím mảnh mai của Hạnh ! Một tuần tôi nhận đúng bảy lá ! Một tháng đủ ba mươi chiếc phong b́ ! Tay đàn em K30 mỗi lần nhét thư vào pḥng dù cố gắng nghiêm trang nhưng không giấu nổi nụ cười tủm tỉm.

  2. #93
    Tran Truong
    Khách
    Tôi không mở bất kỳ lá thư nào. Tôi kiếm một cái túi nilon và gom nó lại. Rồi cô ấy cũng sẽ hết kiên nhẫn . Tháng sau, tôi có một lá thư với nét chữ lạ. Tôi mở phong b́. Ḍng chữ ngắn của cô Dung : “Sao anh Hiệp không viết thư cho Hạnh ?”. Tôi bỏ chung vào gói thư, không trả lời. Thời gian qua …

    Đă gần cuối năm thứ ba.Tôi vẫn là một anh trai tân. Thật đáng thương hại khi trong đêm trao nhẫn truyền thống, tôi cầm lấy chiếc nhẫn tự lồng vào ngón tay ḿnh. Tôi tiếp tục làm nhóm trưởng nhóm “Lờ quờ”, không quan tâm đến sự mối mai của bạn bè với các em gái Bùi Thị Xuân hoặc với những cô sinh viên Đại Học Chính Trị Kinh Doanh Đà Lạt danh giá.

    [img]Bà luật sư Nguyễn Thị Hậu – Thị trưởng Đà Lạt (1965 – 1966), nữ thị trưởng duy nhất của VN, gặp gỡ các đồng nghiệp Mỹ by manhhai, on Flickr[/img]

    Một chiều thứ Bảy, có tiếng của Sinh viên trực nhật trên loa phóng thanh gọi tôi ra hội quán Huỳnh Kim Quang gặp người thân. Không thể là mẹ tôi, người suốt đời chưa bao giờ nghĩ ḿnh được ngồi máy bay, dù chỉ một lần. Không thể là em tôi đang chúi đầu trên giảng đường Đại học ở xứ Huế xa xôi. Chỉ có thể là Hạnh ? Lúc này tôi đă chuyển đại đội.

    [img]DALAT 1965-66 - Chợ Đà Lạt by manhhai, on Flickr[/img]

    Tôi chạy t́m Kim Long hiền lành cộng thêm anh chàng Thu hào hoa nhiều chiêu trốn gái ra hội quán t́m hiểu và cứu giúp. Ḷng tôi như đánh lô tô. Ba mươi phút sau, Thu trở lại cười rộng miệng “Xong rồi.Tao bảo mày đă hỏi vợ ở quê !”. Kim Long đi sau mặt buồn xo bảo tôi : “Anh Hai ác quá. Em khóc nhiều lắm. Tội quá trời luôn !”.

    Đêm hôm ấy, tôi đốt hết tập thư của Hạnh.Trong mắt bạn bè cùng đi công tác Duy Xuyên, nhất là Thành Sang, Sinh viên Sĩ Quan phụ trách câu lạc bộ Huỳnh Kim Quang, tôi là thằng Don Juan. Sang bảo “Thấy con nhỏ thất thểu ra về, tao muốn đấm vào mặt mày một cái ”. Cũng đành !

    [img]DALAT 1965-66 - Chợ Đà Lạt by manhhai, on Flickr[/img]

    Tôi sẽ không nói nhiều về thời gian hơn hai năm đi tù, thân phận không bằng một con vật. Mạ tôi đă hồi cư cất túp lều trên nền đất cũ Long Hưng, em trai tôi bỏ học cầm cái bay đi làm thợ hồ. Tôi thành “con bà Phước” sống nhờ vào các niên trưởng và các chiến hữu có thân nhân thăm nuôi. Ngày cầm giấy ra trại, niên trưởng Huỳnh công Kỉnh, K25 c̣n phải cho tôi tiền mua vé tàu.

    Về làng xưa vào ngày cuối năm lúc trời đă chạng vạng, mạ ôm chầm lấy tôi rồi nghẹn ngào bảo “Vào Nam đi con. Không sống nổi ở đất ni mô. Thay đổi hết rồi. Sâu bọ lên làm người rồi !”.Tôi ở được với mạ một đêm, cầm trong tay cái địa chỉ của người làng tận Sài G̣n, ăn hai bữa cơm trộn bắp rồi lại ra đi …

    Trên chuyến xe Bắc Nam ọp ẹp, tôi đi qua vùng đất Quảng Nam đầy ắp kỷ niệm xưa … Ḥa Khánh, Ḥa Cầm, Cẩm Lệ, Vĩnh Điện, Duy Xuyên … Chắc bây giờ Hạnh đang ở trên đà danh vọng, có khi làm bà Cán Bộ cũng nên. Tôi cũng chẳng ân hận ǵ. Tôi với nàng rơ ràng là hai đường thẳng song song.

    Tôi cũng chẳng muốn nhắc lại tháng ngày ngược xuôi kiếm sống trên đất Sài G̣n. Người làng cũ đă bán nhà đi kinh tế mới. Tôi nằm vơ vất ở bến xe Miền Đông ba đêm rồi may mắn gặp lại Ngọc, thằng bạn cùng đại đội. Hắn giúp tôi gặp nhóm bạn cũ đang thay nhau đạp xích lô từng ngày; có khi lại mang vác hàng cho mấy bà bán phụ tùng xe đạp ở chợ Trời; có khi lang thang không biết đêm nay ḿnh sẽ ăn đâu, ngủ đâu.

    Đúng như câu thơ của Lư Bạch “Xử thế nhược đại mộng!”. Cuộc đời quả là một giấc mộng lớn. Mới ngày nào chúng tôi c̣n là những chàng trai hào hoa ấp ủ nhiều hoài băo.Tôi nghe tin anh Hoàng Tấn đă bị bắn chết v́ phản kháng ở Đơn Dương - Đà Lạt. Bạn bè cũ có thằng vượt biên thoát, thằng mất tích, thằng c̣n ở trong các trại giam, thằng vào rừng t́m lực lượng kháng chiến …

  3. #94
    Tran Truong
    Khách

    Người con gái Duy Xuyên -- Hương Thủy ( Tiếp theo hết )

    Rồi cuộc đời đưa đẩy tôi lưu lạc qua đất Campuchia bằng xe đ̣ ở Tân Châu - Hồng Ngự. Tôi làm nghề cắt tóc dạo ở Phnompenh, bỏ mối thuốc cho một ông Trùm buôn lậu thuốc Tây của Xí nghiệp Quốc doanh Việt Nam kiếm cơm hàng ngày, thậm chí có khi c̣n làm y tá chích thuốc dạo cho bệnh nhân. Ơn trời, chưa nghe ai chết !

    Tôi giao tiếp với người Cam ở các chợ Schabarbauu, chợ Chắc Nghệ … Đôi khi thất chí, muốn lấy đại một cô Miên quấn xà rông, có mấy cái răng vàng 24 Karat sáng chóe chuyên ăn mắm ḅ hóc cho xong đời !

    T́nh cờ tôi quen anh Tài, một Việt Kiều Miên về nước năm 1972 lúc người Việt bị cáp duồn. Anh lên lại Nam Vang làm ăn và có ư định vượt biên qua Thái Lan. Anh cần một tay sử dụng súng sẵn sàng bắn vào Công an hoặc hải tặc. “Một liều ba bảy cũng liều”, tôi nhận công việc này.

    Chúng tôi lên Kompongsom mua một chiếc ghe cũ bề ngang 2m dài 7m được tân trang, sửa lại lốc máy và khởi hành vào một đêm tháng Tám từ Vịnh Tân Hao. Trên ghe có sáu người lớn và hai con nít. Ghe không dám đi gần bờ v́ sợ lính biên pḥng của Miên. May mắn thay, gần tới KoKong th́ trời đổ mưa lớn che khuất tầm nh́n của các trạm gác. Lênh đênh trên biển 4 ngày chúng tôi gặp những chiếc tàu treo cờ Thái và ghe đi đúng hướng cập vào tận một hải cảng. Tôi chưa phải sử dụng cây M16 !

    Lúc quyết định theo anh Tài tôi có ư nghĩ nếu chuyến đi không thành công th́ biển sẽ là mồ chôn cuộc đời đă tận đáy xă hội của ḿnh.Tôi chẳng c̣n sợ ǵ cái chết. Tôi cũng dự định nếu đến được Thái Lan th́ sẽ ngữa mặt lên trời cười ba tiếng bù lại hơn 10 năm tủi nhục sau ngày Miền Nam sụp đổ. Nhưng tôi không làm được điều này , v́ chỉ kịp xách cái bao đi theo người lính Thái về trại tạm trú Leam Ngộp.

    Sau ba tuần ăn, ngủ, nghỉ, chúng tôi chuyển lên trại chính là Panat Nikhom. Nghe nói chỉ hai tháng sau, trại tạm cư đóng cửa không c̣n chấp nhận người tị nạn Việt Nam.Và ở đây, tôi đă quen Minh Hạnh, vợ của tôi bây giờ. Qua bao nhiêu gian khổ, tôi không c̣n giữ được bất cứ một thứ giấy tờ nào.Tôi chỉ c̣n nhớ số quân của ḿnh.

    Nhưng may mắn thay, khi được Cao ủy Liên Hiệp Quốc phỏng vấn, tôi gặp Thiếu tá Niên trưởng Tôn Thất Diên K10, Trưởng khoa Anh Văn của Trường Vơ Bị, đang làm phiên dịch cho phái đoàn.Thầy đă tận t́nh giúp đỡ tôi. Chao ôi là ân t́nh của trường Mẹ ! Tôi được nhập cư vào đất Mỹ. Trong tháng ngày chờ đợi và học nghề ở Phi Luật Tân, bạn bè K28 cũng đă yểm trợ cho tôi một ít tài chánh trong t́nh nghĩa đồng môn, bạn bè cùng khóa…

    Như bao người đến Mỹ muộn màng, nên vợ chồng phải hùng hục kiếm sống. Một người ôm 2,3 jobs và thay đổi công việc liên tục từ hầu bàn, rửa bát, làm vườn, dọn tuyết, sơn nhà, giữ trẻ … đêm về c̣n phải đi học ESL . Bên nhà báo tin mạ mất, tôi cũng chẳng thể trở về. Thôi th́ buổi chiều ly biệt cuối năm đó, tôi cũng đă nhủ thầm “Lạy mẹ, con đi”…

    Tôi cũng không hiểu sao vợ tôi lại có cái tên trùng với Hạnh , Duy Xuyên ? Lại sinh cùng năm kư hiệp định Geneve 1954. Minh Hạnh người Vĩnh Long và hiền lành như cây trái miệt vườn sông Hậu. Cô ấy chưa bao giờ hỏi tôi về quá khứ và cũng không biết ǵ về Trường VBQGVN với những chàng trai quân phục dạo phố worsted, Jaspe, cầu vai Alfa đỏ … Chúng tôi từng bước ổn định cuộc sống với hai con gái chăm ngoan.

    Sau những nhọc nhằn, giờ đây tôi đă có những phút giây thư giăn. Tôi bắt đầu liên lạc, thư qua tin lại với bạn bè xưa. K 28 có đâu khoảng 50 người trên đất Mỹ. Bạn bè hầu hết đă quá 60, lâu lâu lại nghe tin buồn một thằng về “Vùng V”. Ôi ! Đời người như bóng câu qua cửa sổ.

    Năm ngoái, tôi về Houston, Texas tham dự Đại hội Vơ Bị lần thứ 19. Thật cảm động khi gặp lại những gương mặt “gian ác” thuở nào. Chúng tôi ḥ hét, cười đùa y như những chàng trai mới lớn. Nhắc lại kỷ niệm xưa có thằng rươm rướm nước mắt dù tóc trên đầu đă ngă màu bạc trắng.
    Hôm đến nhà hàng Kim Sơn dự dạ tiệc, ngang qua một số chị em Hội Phụ nữ Lâm Viên, tôi chợt nghe tiếng gọi :

    - Anh Hiệp…Có phải anh Hiệp không ???

    Tôi dừng chân. Trước mặt tôi là một người đàn bà c̣n vẻ duyên dáng trong chiếc áo dài xanh truyền thống…Nhưng tôi không thế nào nhớ nổi đó là ai.
    Người đàn bà mỉm cười : -Trông anh không thay đổi mấy. Em nhận ra ngay. Dung Duy Xuyên đây ! Anh c̣n nhớ không?
    - Ồ, cô Dung Duy Xuyên, người góp phần mai mối cho mối t́nh đầu của tôi ở Quảng Nam. Chúng tôi mừng rỡ. “Tha hương ngộ cố tri ”, hạnh phúc nào bằng ! Chúng tôi bồi hồi nhắc lại chuyện hơn 40 năm về trước, thời tôi là một anh SVSQ cù lần và Dung với cái quán cho thuê sách ở góc chợ … Dung đă lấy vị Niên trưởng K27 khi anh đi “tù cải tạo” về và hai vợ chồng qua Mỹ theo diện HO năm 1992.
    Dung chợt nghiêm mặt hỏi tôi :

    - Anh có nhớ ǵ về Hạnh không ? Tôi cười cười :

    - Sao ? Cô ấy làm bà Bí thư Tỉnh ủy chưa ? Có bao nhiêu biệt thự rồi ?

    - Anh không biết thật sao ? Đàn ông các anh thật vô tâm … Nó tội lắm.

    Dung kể cho tôi nghe. Quả thực như tôi nghĩ, ba Hạnh không chết như trong lư lịch đă khai. Ông tập kết ra Bắc khi Hạnh c̣n nằm trong bụng mẹ và trở về Nam từ những năm 70. Ông móc nối với gia đ́nh để được tiếp tế và hoạt động trên đất Quảng Nam. Đó cũng chính là lư do mà cả bà ngoại và má Hạnh ngăn cản không cho Hạnh giao tiếp với tôi, một người lính VNCH.

    Sau ngày tôi trở về trường không lời từ giă, Hạnh đau khổ lắm. Không nhận được thư hồi âm, cô trốn nhà lặn lội vào Đà Lạt. Trước thái độ cự tuyệt lạnh lùng và dứt khoát của tôi, cô về sống lầm lủi ở Xuyên Phước, phụ trách pḥng Hộ sinh Xă.

    Ngày miền Nam mất, ba Hạnh công khai xuất hiện với cương vị một “Cán bộ Cách Mạng” cao cấp trong sự mừng rỡ của người mẹ chờ đợi đằng đẵng 20 năm ṛng. Nhưng ngày vui ngắn ngủi chẳng được bao lâu. Sự thủy chung của bà đă bị trả giá khá phũ phàng. Chỉ bốn tháng sau, một người đàn bà miền Bắc xuất hiện với những đứa con sau lưng. Ba Hạnh lúng túng giải thích, nhưng mọi chuyện đă quá rơ ràng.

    Má Hạnh không có con trai. Căn nhà từ đường có cây ngọc lan, có cái giếng đá ong đành để lại cho gia đ́nh mới. Hai mẹ con trở về Điện Bàn sống với bà Ngoại trong ngôi nhà tôi đă một lần đến thăm.

    Hạnh từ chối đặc quyền đặc lợi dành cho “con em chính sách” đi học Bác sĩ ở Hà Nội. Mẹ Hạnh suy sụp hẳn đi và mất sau một cơn đột quỵ. Trước khi mất, bà cầm tay Hạnh ứa nước mắt như một lời xin lỗi muộn màng. Măn tang mẹ, Hạnh quyết định đi tu Thiên Chúa giáo ḍng Phước Môn. Và hiện giờ nàng đang là một nữ tu phụ trách trường trẻ em mồ côi gần Nhà thờ Núi Trà Kiệu !

    Tôi ngồi lặng. Trong đầu tôi dần hiện ra h́nh ảnh cô gái có khuôn mặt trắng mát, cái nốt ruồi như hạt đậu đỏ cuối chân mày, một buổi chiều tháng Ba, ngôi nhà thờ cổ, ngụm nước giếng mát lạnh và … nụ hôn đầu. “Lần đầu ta ghé môi hôn. Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang …”
    Tôi biết ḿnh sẽ có nhiều đêm mất ngủ. Hạnh ơi !…
    Hương Thủy

  4. #95
    Tran Truong
    Khách
    Thư Gửi Bọn Chó Đẻ (*) Ở Hà Nội - Bùi Bảo Trúc


    Tao không thể dùng bất cứ một từ ngữ nào khác hơn để gọi chúng mày. Bởi v́ chúng mày chính là một bọn chó đẻ . Càng ngày những việc chúng mày làm và những việc chúng mày không dám làm đều cho thấy chúng mày là một bọn chó đẻ không hơn không kém.

    Vừa có tin nói là chúng mày đang áp lực chính phủ Indonesia dẹp bỏ những di tích ở Galang, những chứng tích ghi lại thảm cảnh của mấy trăm ngàn người Việt, những người phải bỏ đất nước ra biển liều chết đi t́m sự sống. Những người tị nạn khốn khổ ấy trong khi bị chúng mày đối xử tàn tệ đến nỗi phải bỏ trốn đi th́ lại được những người dân Indonesia giúp đỡ, bảo bọc trên đường lánh nạn.

    Thực là đau đớn và chua xót cho người dân Việt cùng da vàng máu đỏ, cùng tổ quốc, giống ṇi với chúng mày th́ bị chúng mày ngược đăi đối xử như quân thù quân hằn ; trong khi ở Indonesia, những người xa lạ không cùng gịng máu Việt lại dành cho họ những đối xử tử tế, nhân đạo vào những lúc khốn cùng nhất.

    Mấy tấm bia ghi lại những đối xử tốt đẹp ấy đă bị chúng mày t́m mọi cách để đục phá cho bằng được, để xóa hết những dấu tích xấu xa của chúng mày, nhưng lại là những ghi dấu ḷng tử tế nhân đạo của người dân Indonesia không cùng huyết thống.

    Chúng mày tuy phá được những tấm bia trên mấy ḥn đảo năm 2005 nhưng những điều xấu xa của chúng mày th́ vẫn c̣n nguyên. Chúng mày tưởng làm như thế là những chuyện xấu xa của chúng mày tan biến đi hết hay sao? Người dân ở các đảo nơi có những tấm bia bị phá đó sẽ c̣n nhớ măi v́ sao lại có những tấm bia đó, họ sẽ luôn luôn nhớ những con thuyền mỏng manh cập vào những đảo ấy, chở theo những thân tàn ma dại v́ chúng mày mà phải bỏ nước ra đi.





    Chúng mày phá được những tấm bia đó th́ vẫn c̣n cả triệu người Việt ở hải ngoại ghi nhớ v́ sao họ phải bỏ nhà, bỏ cửa, bỏ quê hương, bỏ mồ mả tổ tiên đi tha hương t́m sống. Người Việt ở trong nước cũng sẽ c̣n nhớ măi những điều đó. Chúng mày sẽ không thể xóa được những điều xấu xa đó. Không bao giờ.

    Chúng mày làm đủ mọi cách để dẹp những tấm bia trên những ḥn đảo xa lạ cách xa đất nước ngàn dặm, trong khi có rất nhiều điều chúng mày phải làm, nhưng lại không làm, và chắc là không dám làm ở ngay trong nước cũng như ở những nơi nằm sát cạnh Việt Nam.

    Như khi những người dân Việt sinh sống bằng nghề đánh cá ở miền Trung mới đây bị một bọn vô lại khốn nạn ngang ngược cấm đánh cá ở ngay vùng biển của nước Việt Nam th́ chúng mày tránh, né không dám lên tiếng. Chúng mày khiếp nhược, run sợ không dám nói tới quốc tịch của những chiếc tầu gây phiền nhiễu, tạo thiệt hại vật chất, sinh mạng cho người đánh cá Việt Nam trong khi ai cũng biết đó là những chiếc tầu của hải quân Trung Cộng, treo cờ Trung Cộng, thủy binh mặc đồng phục hải quân Trung Cộng, và chuyện đó chính báo chí Trung Cộng cũng công nhận, không thèm che giấu.

    Nhưng chúng mày th́ không dám hé miệng can thiệp, bênh vực cho nhũng người đánh cá Việt Nam khốn khổ đó.

    Bọn tứ ngược, như chữ của Nguyễn Trăi dùng trong B́nh Ngô Đại Cáo, ngang nhiên đem quân chiếm lấy những đảo của Việt Nam th́ chúng mày không dám hé môi nói được lấy một nửa tiếng để phản đối. Những hy sinh của các chiến sĩ hải quân Việt Nam Cộng Ḥa can đảm đánh lại bọn bá quyền Trung quốc trong vụ quần đảo Hoàng Sa th́ bị chúng mày lờ đi không dám nhắc đến.

    Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, người sĩ quan hải quân Việt Nam Cộng Ḥa đă làm cho chữ "Ngụy" trở thành đẹp đẽ biết là bao. Ngụy như thế th́ chúng tao là Ngụy hết. Chúng tao là Ngụy, là những người cùng lư tưởng, cùng ḍng máu anh hùng của hạm trưởng hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ 10.

    Chúng mày lờ sự hy sinh cao quí của thiếu tá Ngụy Văn Thà đi để che dấu cái thái độ hèn nhát bán nước của chúng mày và cái công hàm mà tên thủ tướng mặt chó Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai để tặng không Trường Sa và Hoàng Sa cho Tầu đỏ. Gọi đó là bán nước th́ cũng không đúng, v́ đổi lại, chúng mày cũng không được bọn Tầu khốn nạn trả cho một cắc.

    Ngày nay, ở Sài G̣n, chỉ cần mặc cái áo có h́nh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng bị bắt v́ phạm húy. Những ai lên tiếng về đất nước, về sự vẹn toàn của tổ quốc là bị đàn áp thẳng tay như đă thấy.

    Sự im lặng của chúng mày, cách hành động của chúng mày trong vụ Bản Giốc, trong những tranh chấp ở biển Đông chỉ là để che giấu những việc làm đê hèn của chúng mày.

    Nay chúng mày đ̣i Indonesia dẹp chứng tích cuối cùng về giai đoạn bi thảm của Việt Nam trên đảo Galang cũng là v́ chúng mày sợ sự thật, chúng mày sợ những dấu tích đó sẽ tiếp tục làm cho h́nh ảnh của chúng mày xấu đi . Nhưng chúng mày có bao giờ tử tế và tốt đẹp đâu.





    Chúng mày nhắm mắt để cho bọn chó má đem phụ nữ trẻ em Việt Nam bán cho các ổ điếm ở Campuchia, đưa đi làm tôi tớ ở các nước ngoài, tổ chức những vụ bán nô lệ như thời mọi rợ cho những thằng đàn ông Cao Ly, Đài Loan, Malaysia … đến xem và mua về làm nô lệ t́nh dục, để mặc cho phụ nữ Việt bị nhốt trong những lồng kính ở Singapore cho khách mua dâm tới xem mà lựa chọn... Chúng mày táng tận lương tâm để cho bọn cai phu ngoại quốc đánh đập công nhân Việt Nam ngay ở trong nước, rồi c̣n để cho những thằng công nhân Tầu khốn nạn ngang nhiên kéo đến đánh đập những người dân Việt sống ở gần công trường xây cất ngay trên quê hương của ḿnh.

    Chúng mày im thin thít.

    Nhưng chúng mày lại rất hăng hái, dùng đủ mọi thủ đoạn đê hèn nhất để t́m cách che giấu những việc làm chó má của chúng mày, nói là những di tích ấy bầy ra những h́nh ảnh không đẹp của chúng mày.

    Để tao chỉ cho chúng mày một chỗ thực sự lăng mạ chúng mày coi chúng mày có dám làm ǵ không. Mới đây, tại cuộc lễ dâng đất cho bọn Tầu Cộng mà chúng mày gọi là cắm cột mốc biên giới, bọn Tầu khốn nạn dựng ngay gần nơi diễn ra cuộc lễ một bức tường với những h́nh ảnh của cuộc nổ súng ở biên giới miền bắc giữa hai bọn chó dại.

    Đứng từ xa nh́n cũng thấy đó là những h́nh chụp bọn lính Tầu tiến đánh một số vị trí trong lănh thổ Việt Nam. Trong trận này, bọn Tầu c̣n gây thiệt hại nặng cho cái hang chồn Păc Bó, cái mả tổ Cộng Sản của chúng mày. Đó, có giỏi th́ đ̣i Trung Cộng dẹp những bức h́nh đó coi có dám làm không.

    Tao mong sao chúng mày chết đi sớm chừng nào may chừng ấy cho dân tộc Việt Nam. Chừng đó, tao bảo đảm mồ mả chúng mày sẽ không bao giờ được để cho nguyên vẹn, kể cả cái xác thối của thằng đại lưu manh chó đẻ ở Ba Đ́nh đang làm bẩn cái tên lịch sử Cần Vương quá đẹp của Đinh Công Tráng và Phan Đ́nh Phùng này.

    Lịch sử chắc chắn sẽ không nhẹ tay với bọn chó đẻ là chúng mày.


    Ngày 09/05/2015
    Kư tên:
    Một người Việt Nam không Cộng Sản

    ----------------
    (*) Với những đứa từng gọi "thằng Diệm" và "thằng Thiệu" th́ cách gọi này dành cho chúng mày vẫn c̣n là nhẹ. Nếu có phải nói thêm điều ǵ về cách xưng hô này th́ chắc phải là đôi ba lời xin lỗi mấy con chó v́ cách gọi đó đă cho chúng mày được làm con những con chó ấy.

    Bùi Bảo Trúc

  5. #96
    Tran Truong
    Khách
    Bài lượm lặt từ trên mạng :


    Có một xứ Huế trong thơ

    Một không gian sông núi hài hoà, một quần thể kiến trúc độc đáo với những cung điện, lâu đài, thành quách, lăng tẩm, chùa chiền đă có hàng trăm năm tồn lại lưu giữ cho hôm nay và muôn sau dấu ấn huy hoàng của triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, một vùng đất tao loạn hay thanh b́nh, tranh chấp hoặc hoà hợp, giao thoa và riêng biệt đều mang những dấu ấn đặc biệt khó quên. Đó là một vùng văn hoá đặc sắc không phải chỉ có những công tŕnh kiến trúc, âm nhạc tiêu biểu đă được công nhận là di sản văn hoá của nhân loại mà c̣n có cả nền thi ca “rất Huế” nữa

    Huế. Dù ở thời nào cũng có nhiều khoảng lặng trầm sâu khơi dậy những cảm hứng và ư tưởng sáng tạo cho các thi nhân. Chỉ mới núi Ngự, sông Hương đă là một niềm thơ vô tận.

    Dạ thưa xứ Huế bây giờ
    Vẫn c̣n núi Ngự bên bờ sông Hương
    (Bùi Giáng)


    Câu thơ nhẹ và êm như lời thưa của con gái Huế. Đơn sơ như chẳng có ǵ cả , thế mà sao đọc lên nghe xao xuyến thế. Thi sĩ họ Bùi nói cái điều rất hiển nhiên, cái điều đă tồn tại muôn thuở là 'núi Ngự bên bờ sông Hương' mà ta thấy vẫn hay. Cái hay nhờ hai chữ 'Vẫn c̣n'; vẫn c̣n núi Ngự sông Hương là vẫn c̣n Huế mộng mơ gợi cảm. Hay diễn đạt một cách khác nếu không có núi Ngự sông Hương th́ liệu Huế có c̣n là Huế nữa hay không?

    Sông Hương gần gụi và hiện rơ hơn trong thơ Hàn Mặc Tử:

    Gió theo lối gió, mây đường mây
    Ḍng nước buồn thiu, hoa bắp lay
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó?
    Có chở trăng về kịp tối nay
    (Đây thôn Vỹ Dạ)




    Ḷng thi sĩ ngổn ngang thương nhớ giai nhân nên cảnh trong thơ cũng hiu hiu buồn. Trên sông Hương gió mây cũng chia rẽ đôi đường, cảnh vật như cứ bị rời ra, sự hội tụ h́nh như đang c̣n ở phía trước, đang c̣n là ước vọng của thi nhân. Cả con thuyền đậu bến sông trăng cũng không cầm chắc có chở được trăng về cho người đợi hay không.

    Sông Hương chừ có chờ mong
    Răng con thuyền nhỏ ngóng trông bên bờ..?
    Rêu phong thành cổ xa mờ
    Thinh không bỗng thoảng ơ hờ tiếng chuông

    (Xa Huế)



    Buồn quá!Tôi đọc thơ về sông Hương, xưa hay nay đều gặp giọng buồn. Hương giang, phận sông là phận gái, đẹp đẽ, mềm mại, dịu dàng mà vẫn đa đoan mỏng manh đầy bất trắc. Cứ như trời đất bắt phải thế, không làm sao thoát được kiếp hồng nhan bạc mệnh.


    Áo sánh sóng thương ai
    Tà triều Hương tím băi
    Ḷng nguồn cơn mưa măi
    T́nh động mái buồn đ̣ đẩy sông suông

    (L.Đ)



    Trăng suông. Sông suông. Đều nhạt, lạnh, và buồn cả. Ơ hờ đời sông kiếp nữ. Do vậy chả trách chi Nguyễn Bính khi đến xứ sở núi Ngự sông Hương vào mùa mưa đă phải nao ḷng kêu lên:

    Giời mưa ở Huế sao buồn thế
    Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
    Xa xôi ai nhớ mà thương nhớ?
    Mà nhớ mà thương đến thế này!
    (Giời mưa ở Huế)




    Huế - mưa – buồn, tiếng giọt mưa hay những tiếng tơ ḷng thi nhân:

    Huế ơi rơi rớt giọt sầu
    Chiều ni xa Huế mưa ngâu ngập ḷng

    (Xa Huế)




    Nét buồn của sông Hương, của Huế là nét buồn đẹp. Buồn của tri âm, của nhớ thương, của thế thái nhân t́nh, của những khát khao và hy vọng. Đó là nỗi ḷng sâu thẳm của một vùng đất nhiều biến động thăng trầm, nhiều trầm tích văn hoá mà ta chưa đi đến tận cùng. Buồn. Nỗi buồn bao giờ cũng gần với thơ hơn cả. Nó như là biểu hiện của tâm hồn, của cách sống không nông cạn, nhạt nhẽo và hời hợt.

    Gắn với sông Hương phẳng lặng là một Huế cổ kính, trầm tư, nhiều u hoài. Phải chăng Huế hay trầm tư, u hoài v́ ḍng đời luôn chảy trong bóng những luỹ thành của những triều vua đă quá văng nhưng dấu vết của thời vàng son đó c̣n hiện hiển giữa bạch nhật thanh thiên. Bây giờ vẫn có cảm giác thế huống hồ là xưa như Vũ Đ́nh Liên đă viết:

    Gió không thổi, nước sông trôi giá lạnh
    Thuyền đi trong bóng tối luỹ thành xưa
    Trên cḥi cao, tự ngàn năm sực tỉnh
    Trong trăng khuya bỗng vẳng tiếng loa mơ

    (Ḷng ta là những hàng thành quách cũ).




    Nói như thế không có nghĩa là cuộc sống của con - người - Huế bị thụ động, bị khuất ch́m trong cái bóng của dĩ văng, trái lại Huế đẹp sinh động và quyến rũ hơn nhiều nhờ vào những cô gái Huế.

    Đây phong vị Thần kinh
    Cầu Tràng Tiền mấy nhịp?
    Cô gái Huế đa t́nh
    Vành nón nghiêng khép nép
    (Thơ Đinh Hùng)


    http://www.donghuongtth.com/mydata/n...s/aodaitim.jpg


    Nón bài thơ, suối tóc thề
    Dáng con gái Huế đi về tuổi thơ.

    (Áo lụa)


    Sau này, khi ở xa quê nhà thơ Thanh Tịnh vẫn mang Huế đi theo bằng những h́nh ảnh kỷ niệm thân thuộc không bao giờ quên được:

    Mười một năm trời mang Huế theo
    Đèo cao nắng tắt bóng cheo leo
    Giọng ḥ mái đẩy vờn mây núi
    Man mác sông Hương lướt đỉnh đèo
    (Nhớ Huế quê tôi)



    Chính cái buồn, cái phẳng lặng, cái sâu lắng đă tạo nên nét riêng cho con người và cảnh vật Huế. Thơ bắt nhịp vào những cái đó của Huế đă tạo ra được nhiều tác phẩm hay khi viết về vùng đất này. Thơ viết về Huế xưa và nay hầu như không có bài nào lên giọng ồn ào mà được người đọc ghi nhớ. Huế là miền thơ. Bởi thế, những ǵ tôi viết trên đây mới chỉ là chấm phá. C̣n nhiều, nhiều bài thơ rất hay cho Huế, của Huế vẫn chưa được nêu ra. Biết làm sao đây, ơi Huế ?

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •