+ Reply to Thread
Results 1 to 4 of 4

Thread: Công hàm bán nước

  1. #1
    Member
    Join Date
    28-02-2011
    Location
    bi
    Posts
    254

    Công hàm bán nước



    Thua quư vị,

    Khi đọc bài viết này ngựi có ít hiểu biết, chút thông minh đều nh́n thấy rơ rằng tập đoàn việt gian cs đang chạy tội bán nưóc trưóc dư luận của nhân dân VN 1 cách gưọng gạo, vụng về chắp vá khi họ cố gắng dùng những luận điệu hàm hồ, nguỵ biện để che lấp bằng chứng quá rơ ràng về việc csvn bán nưóc cho Tàu. Dù csvn cố gắng che dấu, bao che những bằng chứng bán nưóc của viet gian HCM, PVD cũng không thể xoa bỏ, phủ nhận tội bán nưóc của viet gian cs. Kể từ khi CS cai trị VN, nạn buôn ngựi, nô lệ t́nh dục mới xảy ra. Trong lịch sử VN chưa có 1 chế độ nào buôn dân bán nưóc như bọn viêt gian CS.

    Giấy bán nưóc do Phạm Văn Đồng đă soạn thảo và kư tên với sự đồng thuận của "Vua CSVN" HCM. Sự việc hoàn toàn rơ ràng, dù bè lũ viet gian cs có khoa môi múa mỏ, nguỵ biện cách mấy càng làm biểu hiện rơ thêm mặc cảm của chúng về các tội ác buôn dân bán nưóc. Trưóc đây, csvn thựng dùng những luận điệu ngây ngô, ngớ ngẩn lừa bịp những dân quê chất phác, những ngựi Yêu Nưóc ngây thơ về chính trị theo chúng để làm công cụ, bia đỡ đạn cho đảng và nhà nưóc việt gian CS...những luận điệu chúng đă dùng để bịp trong quá khứ khi nhắc lại làm ngụi ta nhận thấy ư nghĩa, luận diẹu của csvn thật khôi hài, ấu trĩ 1 cách thảm hại. Chúng ta hảy thông cảm việc ngụi dân VN bị lừa trong thời gian đó khi xét về sự hiểu biết chính trị của ngựi Viet vào lúc đó rất nông cạn, giói hạn... v́ t́nh trạng thiếu thốn, lạc hậu của 1 nưóc Thuộc Địa đang đ̣i Độc Lập lại bị 1 bè lũ viet gian đưọc huấn luyện chuyên nghiệp bởi CS Quốc Tế bịp bợm, lừa đảo,

    Hăy thử xem những luận điệu bịp mà csvn đă dùng để nhận thấy sự ngây ngô, ấu trĩ thời gian ấy... nhưng luận điệu tiêu biểu đưọc csvn dùng như " lính Nguỵ trong Nam 5 thằng ngời trên cành đu đủ không gẫy bởi v́ chúng quá đói, hay Mỹ Ngụy kềm kẹp trong Nam nhiều ngựi bị ngưọc đăi hành hạ, không quân vc tắt máy bay nằm yên phục trên mây chờ máy bay Mỹ tới mới mở máy nhào ra đánh, tên lửa LX viện trợ không thể bắn hạ B52 v́ nó bay quá cao, sau HCM cho nối 2 tên lửa làm 1 mới hạ đưọc B52, bọn Pháp không thể co đầu gối cứ lấy hột đậu, mù u rải ra cho chúng té th́ chúng không thể đứng dậy, xe tank của Pháp làm bằng giấy cứ dùng tầm vông vạt nhọn đâm thủng để diệt chúng. thần thành hoá hcm bằng cách nhà hcm ở không có cửa v́ hcm biết khinh công thựng nhảy vưọt tựng để vào nhà...cán bộ cs khoe với ngựi trong Nam rằng ngoài Bắc ǵ cũng có Tv chạy đầy đựng, cà rem ăn không hết phải đem phơi khô để dành (?) " Đại loại là những luận điệu bịp bợm ấu trĩ như thế... Hăy thử nghĩ xem, với 1 đảng và nhà nưóc CS có 1 quá tŕnh dài chuyên dối trá, lừa bịp..th́ những luận điệu, lập luận của chúng hiện nay có đáng tin không? Dĩ nhiên là không bởi v́ cũng những thủ thuật lừa dối bịp bợm đó vẫn do những cán bộ CS đang tiếp tục xử dụng để trấn áp cai trị nhân dân VN. Chế độ viet gian CS vẫn giữ nguyên bản chất độc tài, gian dối bịp bợm, tham lam, tàn ác của chúng không hề thay đổi. Bản chất tham tàn của csvn đă trở thành 1 hệ thống cai trị, trấn áp đưọc nghiên cứu ngày càng tinh vi và quy mô hơn. Trong thời đại Thông Tin hiện nay, với đà tiến hóa của Nhân Loại, sự hiểu biết, nhận thức chính trị của ngựi VN đă mở rộng, tiến hoá.. Tin Tức, Khoa Học Kỹ Thuật đă làm Trí Óc, tŕnh độ nhận thức chính trị, phân biệt Tốt Xấu, hợp lư, nghịch lư.. của ngựi Việt mở mang hơn trưóc rất nhiều. Họ đâu dễ chấp nhận những luận điệu ngây ngô, ngớ ngẩn chạy tội bán nưóc của bè lũ viet gian cs. Để chúng minh luận điệu chạy tội bán nưóc của csvn là ngớ ngẩn, chúng ta hăy thử phân tích sự việc.

    Đầu tiên, xác định đích chính của sự tuyên truyền này đánh vào đâu? Nhắm vào các cđ ngựi Việt ở Hải Ngoại. Lư do: CSVN muốn kiểm soát các cđ này, họ phải t́m cách gỡ tội bán nưóc của triều đại cs trưóc,

    Thử bàn về lập luận chạy tội bán nưóc Hoàng Sa, Trụng Sa(HS, TS) của Ho Chi Minh (HCM) và Phạm Văn Đồng (PVD) có đủ sức thuyết phục ngựi dân VN không?. Đäy là sự giao ưóc, thoả thuận giữa 2 thế lực CS trên thế giới,vị thế của csvn là chư hầu của CS Tàu, 1 kẻ dưói(CSVN) dâng đất biển VN lên kẻ trên( Thiên Triều) v́ thế không thể nói là vô giá trị. Dựa trên các điều kiện khách quan thực tế, thẳng thắn mà nói csvn chỉ có thể thất hứa, phủi tay, trở mặt với Tàu cs... nếu thế lực của csvn mạnh hơn hoặc ngang ngửa với Tàu th́ họ mới có thể phế bỏ những giao ưóc cũ với Tàu. Than ôi, thế lực của csvn ai cũng biết chỉ là thế lực của 1 nưóc nhỏ ( cho dù có khoác loác, khoe khoang thành tích bao nhiều th́ ngựi ta cũng biết rơ thực trạng thế lực csvn) chỉ là 1 chư hầu của Thiên Triều Tàu th́ việc phủ nhận HS, TS thuộc về Tàu là 1 hành vi vô lư không thể thuyết phục đuọc ai .

    Mặt khác, cứ theo những lập luận của báo ĐĐK th́ dựng như họ muốn khoe rằng " Mao và Chu Ân Lai đă bị mắc lừa HCM, PVD khi nhận HS, TS.." Đây cũng là 1 việc rất khó thuyết phục ngựi ta phải tin bởi v́ Mao và Chu tính về đẳng cấp CS thuộc bậc Thày, đàn anh của 2 việt gian HCM, PVĐ cả về tŕnh độ thông minh, nghiệp vụ..hiểu biết, vị trí trong CS Quốc Tế những ǵ 2 tên "tiểu lưu manh" việt gian HCM, PVĐ làm những tên "tưóng cưóp" Mao, Chu đều biết(HCM đă từng tuyên bố rằng những ǵ Ho muon nói,tuyên bô.. th́ Mac, Lê Mao đă nói, đă tuyên bố...trich HCM Toàn Tập do nhà xb Su Thât của csvn) Ngoài ra, nên biết rằng CS Tàu có 1 hệ thống t́nh báo, quân sự, cố vấn khổng lồ ở đàng sau..chẳng lẽ họ không đủ khả năng để cung cấp tin tức cho Mao và Chu biết ở thời điểm Mao Chu nhận giấy bán nưóc HS, TS của HCM, PVD lúc đó HS, TS chưa thuộc về csvn? Điều này lại chứng minh sự vụng về, ngu dốt của bọn csvn( chúng quen cái thói làm ăn cẩu thả, dối trá, độc tài ở VN cứ tưỏng sẽ hiệu nghiệm trên thế giới). Thêm nữa, trận hải chiến giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và Hải Quân Trung Cộng ( TC) ở HS chẳng lẽ bọn Tàu nó không nh́n thấy sự việc nếu HS, TS thuộc về CSVN th́ mắc mở ǵ Hải Quân của VNCH lại phải ra bảo vệ HS, TS? csvn lại ḷi thêm cái dốt.

    Qua sự việc này có thể khẳng định rằng Mao và Chu đă biết trưóc việc Mỹ sẽ giao VN cho cs cai trị trưóc đó khá lâu, có lẽ bọn Lănh Đạo Tư bàn Mỹ, Tàu, Do Thái đă có những thoả thuận bí mật với nhau từ lâu về số phận VN v́ thế bọn Tàu mới hoan hỉ nhận giấy bán nưóc của PVD và HCM dâng cho chúng.

    Nếu tất cả những suy đoán trên không đúng... th́ HS, TS hiện nay vẫn phải thuộc về của csvn. Nhưng, ai cũng nh́n thấy rơ là... HS, TS nay đă thuộc về ngựi Tàu. Trên 2 đảo, Tàu đă cho xây dựng nhiều cơ quan, phi trựng, hải cảng...quân đội Tàu hiện đang đóng quân trên đó...ngư phủ VN không dám bén mảng tới gần như thế th́ làm sao có thể nói rằng HS, TS là của csvn? Ở đây xin để ư là HS, TS là của csvn chứ không phải của nhân dân VN. Sự khác biệt ra sao?Xin thưa là HS, TS cũng như nô lệ VN, tài nguyên, đất của VN bị bọn đảng viên cs coi như là tài sản riêng của chúng, Chúng cho thuê, bán các tài sản, nô lệ, đất đai, tài nguyên VN ...Lợi Lộc chúng nhét vào túi riêng làm giàu. V́ thế, hiện nay ở VN mới có nhiều Tư Sản, Đại Gia Đỏ, mức độ chênh lệch giữa ngựi giàu và nghèo trong xă hội VN ngày càng to lớn khủng khiếp, điển h́nh là h́nh ảnh xảy ra hàng ngày ở VN, bọn gia đ́nh, thân nhân cán bộ đảng viên csvn ăn xài hoang phí mua những xe hơi đắt tiền, máy bay, Yatch, sang trọng..đánh bạc ở những casino ở Macao, Honkong, Las Vegas, Monaco, Thailand... 1 đêm xài hàng chục,trăm ngàn, triệu dollars mua những căn nhà sang trọng hàng chục triệu dollars ..ở Mỹ, Europe, Australia, Canada...trong khi dân nghèo VN phải bán máu, thận, bán vợ con...để sống, nhiều ngựi bị cán bộ cs cưóp nhà đất phải sống trong cảnh màn trời chiếu đất ở các công viên, các mái hiên nhà, những sạp ngoài chợ..."). Nếu HS, TS thuộc về của csvn th́ có lien hẹ ǵ tới ngựi dân VN mà ngựi dân VN phải quan tâm? Quyền Lợi về HS, TS chỉ có cán bộ, đảng viên csvn hưỏng..... ngựi dân Viet có đưọc hưỏng cái ǵ trong đó mà chúng ta phải có bổn phận, trách nhiệm đẻ đấu tranh? Nếu đ̣i lại đưọc HS, TS, csvn lại đem gạ bán cho 1 thế lực, 1 nưóc khác..để lấy thêm 1 mớ tiền hay gán nợ...rồi ngựi Việt lại phải lănh cái trách nhiệm đi trả nợ hay đ̣i lại đất biển măi măi dùm cho csvn?

    Phản ứng của phía Tàu như thế nào trưóc sự kiện này? Chưa thấy cán bộ Tàu lên tiếng về việc này. Có thể phỏng đoán rằng họ không thèm đẻ ư tới v́ cho là 1 tṛ hề rẻ tiền bịp bợm của lũ csvn hay là họ đồng ư trả lại HS, TS cho csvn? Nếu Tàu trả lại HS, TS th́ sao csvn không có mặt trên HS, TS ngư phủ VN không đánh cá tại đó?

    Kết luận: Luận điệu nói rằng thời gian HS, TS mà HCM, PVD bán cho Tàu là 1 văn bản không giá trị là luận điệu hồ đồ, hàm hồ không đủ sức thuyết phục ai cả, nếu không nói là vô lư. Dù phía csvn có dùng đủ quỷ kế, lừa bịp nhân dân VN bao nhiêu đi nữa, câu châm ngôn bất hủ " ĐÙng Nghe Những Ǵ CS Nói Mà Hăy Nh́n Kỳ Những Ǵ CS Làm " vẫn lột trần mạt nạ lừa đảo, dối trá bịp bợm của bè lũ việt gian buôn dân bán nưóc CS trưóc nhân dân VN. Trân trọng.

    QH

  2. #2
    Member
    Join Date
    28-02-2011
    Location
    bi
    Posts
    254

    Công hàm Phạm Văn Đồng

    Ngày 20.7.2011, báo Đại Đoàn Kết ở trong nước đă cho phổ biến bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của nhóm PV Biển Đông. Bài này được các báo chí trong nước đăng lại và phổ biến rộng răi. Nội dung của bài báo gồm hai điểm chính:
    Trước hết, bài báo phản bác lập luận của Trung Quốc cho rằng bằng công hàm ngày 14.9.1958 chính phủ Việt Nam đă công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc. Bài báo nói Trung Quốc đă “giải thích xuyên tạc Công hàm 1958 là một trong chuỗi những hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lư của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.”
    Sau đó, bài báo gián tiếp trả lời bài “Trở lại chuyện bán đất” của chúng tôi phổ biến ngày 13.7.2011, trong đó chúng tôi dựa vào hai luật lư để nói rằng công hàm của Thủ Tướng Văn Đồng có tính cách ràng buộc. Bài báo cho rằng công hàm đó không hội đủ điều kiện để áp dụng thuyết “promissory estoppel” (sự ràng buộc của lời hứa) mà chúng tôi đưa ra.
    Từ trước đến nay, nhà cầm quyền CSVN và báo chí trong nước đă tránh né không đề cập đến công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, mặc dầu đây là một vấn đề không thể không làm sáng tỏ. Bài “Trở lại chuyện bán đất” của chúng tôi đặt nhà cầm quyền vào t́nh trạng phải lên tiếng v́ chúng tôi dựa vào những luật lư có tính cách thuyết phục để phân tích.
    Bài lên tiếng của báo Đại Đoàn Kết tuy không phải là một tuyên bố chính thức, nhưng nó phải được sự chấp thuận của nhà cầm quyền mới được phổ biến, nên cũng có thể coi đó là tiếng nói của nhà cầm quyền. Qua bài này, chúng ta có thể biết được lối giải thích của nhà cầm quyền. Chúng tôi rất hoan nghênh về sự lên tiếng này v́ nó có thể giúp chúng ta làm sáng tỏ vấn đề hơn và t́m ra được lối thoát để bảo vệ quyền lợi của tổ quốc tại Biên Đông.
    Để độc giả dễ dàng theo dơi, trước tiên chúng tôi xin tóm lược nội dung của bài báo, sau đó sẽ phân tích các sự kiện và lư luận được bài báo nêu ra.
    NÓI V̉NG VO TAM QUỐC
    V́ các sự kiện và lư luận được đưa ra thiếu chính xác nên bài báo không được xây dựng theo một hệ thống chặt chẽ mà viết theo lối “hỏa mù”. Chúng tôi xin tóm lược 4 điểm sau đây được nêu ra trong bài báo:
    1.- Bài báo đă đưa ra những bối cảnh "phức tạp và cấp bách" đối với Trung Quốc vào thập niên 1950s như chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Chu Ân Lai tuyên bố giải phóng Đài Loan, Hoa Kỳ dự tính tấn công Trung Quốc bằng vơ khí nguyên tử, v.v. Từ đó bài báo dẫn lời của Hoàng Việt thuộc Quỹ Nghiên cứu Biển Đông ở trong nước để giải thích lư do tại sao có công hàm 1958: Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù VNDCCH - Trung Quốc lúc đó "vừa là đồng chí vừa là anh em".
    2.- Theo bài báo, nội dung Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng được thể hiện rất thận trọng, đặc biệt là không hề có việc tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lư của Chính phủ Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH).
    3.- Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đă bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, Việt Nam đă long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của ḿnh trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    4.- Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lư nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel" (mà chúng tôi đă đưa ra). Lời tuyên bố của VNDCCH, thiếu 2 điều kiện nên không thể áp dụng thuyết này được.
    MỘT VÀI NHẬN XÉT
    Bài “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam” của nhóm PV Biển Đông là một bản “biện minh trạng”, chỉ đưa đưa ra những sự kiện và những lư luận giúp cho việc biện hộ cho chế độ, nên thiếu giá trị khách quan.
    1.- Bối cảnh thật sự của Hà Nội lúc đó.
    Bối cảnh “phức tạp và cấp bách” của Hà Nội lúc đó không phải là các vấn đề của Trung Quốc mà Hà Nội đă nêu ra. Bối cảnh thật sự của Hà Hội lúc đó là cần có viện trợ của Trung Quốc để đánh chiếm miền Nam. Nhưng theo Hà Nội, lúc đó Trung Quốc chủ trương “trường kỳ mai phục”, “tích trử lương thực” “chờ đợi thời cơ”... chứ không cho đánh liền. V́ thế, Hà Nội phải chấp nhận trao hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa cho Trung Quốc để đổi lấy viện trợ đánh chiếm miền Nam. Sau khi có sự hứa hẹn của Trung Quốc, tháng 1 năm 1959, Hội Nghị lần thứ 15 của Trung Ương Đảng đă họp và đưa ra quyết định “giải phóng miền Nam”.
    Tài liệu của Trung Quốc cho biết trong chuyến bí mật viếng thắm Bắc Kinh vào tháng 4/1965 cùng với Vơ Nguyên Giáp, Lê Duẩn đă nói với Lưu Thiếu Kỳ, đại diện Trung Ương Đảng CSTQ rằng Việt Nam "luôn luôn tin tưởng rằng Trung Quốc là người bạn đáng tin cậy nhất của Việt Nam," và "sự giúp đỡ của Trung Quốc cho Việt Nam luôn đứng đầu về số lượng cũng như chất lượng." Lưu Thiếu Kỳ cám ơn Lê Duẩn và nói với Lê Duẩn rằng "chính sách của Đảng Trung Quốc trước sau như một, và Trung Quốc sẽ thỏa măn tối đa những ǵ mà mà Việt Nam cần." Tiếp theo, ngày 16.5.1965, Hồ Chí Minh lại qua Trung Quốc gặp Mao Trạch Đông tại Trường Sa, tỉnh lỵ của tỉnh Hồ Nam, và nói với Mao về những ǵ Việt Nam cần để có thể gửi người đi chiến đấu tại miền Nam. Mao hứa sẽ cung cấp "bất cứ sự trợ giúp nào mà Việt Nam cần."
    Báo Đại Đoàn Kết nh́n nhận: “Công hàm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm VNDCCH đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xă hội chủ nghĩa bấy giờ.”
    Nói tóm lại, không có viện trợ của Trung Quốc, sẽ không có ngày 30.4.1975.
    2.- Công hàm 1958 đă gián tiếp công nhận chủ quyền của Trung Quốc.
    Chỉ cần đăng lại nguyên văn tuyên bố ngày 4.9.1958 của Trung Quốc và Công Hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, chúng ta có thể thấy rơ ngay Hà Nội đă gián tiếp công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa.
    Ngày 4.9.1958, nước CHNDTQ đă đưa ra lời tuyên bố gồm 4 điểm. Sau đây là điểm 1 liên hệ đến Hoàng Sa và Trường Sa
    “Bề rộng lănh hải của nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lư. Điều lệ này áp dụng cho toàn lănh thổ nước Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa), và các đảo khác thuộc Trung Quốc.”
    (Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)
    Tài liệu của Trung Quốc cho biết sáng ngày 21.9.1958, ông Nguyễn Khang, Đại sứ Việt Nam tại Trung-quốc, đă đến gặp ông Cơ Bàng Phi, Thứ Trưởng Ngoại Giao Trung Quốc, chuyển giao công hàm ngày 14.9.1958 của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng có nội dung như sau:
    “Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
    “Chính phủ nước Việt nam dân chủ cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lư của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung-hoa trên mặt biển.”
    Nhóm “PV Biển Đông” cho rằng Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng đă viết rất thận trọng, không tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lập luận này không đứng vững: Khi Trung Quốc tuyên bố hải phận của Trung Quốc bao gồm cả hải phận của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chính phủ VNDCCH chẳng những không phản đối về điểm này mà tuyên bố “ghi nhận và tán thành” toàn bản tuyên bố của Trung Quốc. Điều này có nghĩa là Hà Nội đă gián tiếp công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc.
    3.- Hội Nghị San Francisco 1951.
    Báo Đại Đoàn Kết cho rằng tại Hội Nghị Hội nghị San Francisco 1951 Việt Nam đă long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của ḿnh trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và cộng động quốc tế đă thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lư của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    Đây là lối viết theo kiểu lập lờ đánh lận con đen. Hội Nghị San Francisco tại California, Hoa Kỳ, được tổ chức từ ngày 5 đến 8.9.1951, c̣n được gọi là Hội Nghị Cựu Kim Sơn, do 51 nước đồng minh trong Thế Chiến II họp lại để bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh tại Châu Á-Thái B́nh Dương và quan hệ với Nhật Bản thời hậu chiến. Cả Trung Quốc lẫn Đài Loan đều không được mời tham dự v́ giữa Mỹ và Nga không đồng ư ai đại diện cho nước Trung Hoa. Dĩ nhiên là VNDCCH cũng không được tham dự, trái lại, Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam do Bảo Đại lănh đạo đă đại diện cho Việt Nam tại hội nghị.
    Trong hội nghị này, Thủ Tướng Trần Văn Hữu đại diện cho Chính phủ QGVN tuyên bố:
    “Và v́ cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm mống tranh chấp, chúng tôi xác nhận chủ quyền đă có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”.
    (Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour estouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur iles Spratly et Paracels qui de tout temps ont fait partie du Viet-Nam).
    Ông Andrei A. Gromyko, Ngoại trưởng Liên Xô, đại diện cho Trung Quốc, yêu cầu ghi vào Hiệp ước Ḥa b́nh với Nhật một điều khoản nói “Nhật nh́n nhận chủ quyền của Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa dưới phía Nam”. Với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận, Hội nghị đă bác bỏ yêu cầu này của Liên Xô.
    Chúng ta cần biết rằng trong thế chiến thứ hai, năm 1938, Nhật Bản đă chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa và đổi tên thành Hirata gunto. Năm 1939, quân đội Nhật Bản đổ bộ lên đảo đảo Ba B́nh thuộc quần đảo Trường Sa và đổi tên thành Itu Aba. Ngày 31.3.1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên bố rằng ngày 30-3-1939 chính phủ Nhật Bản quyết định đặt quần đảo Trường Sa dưới sự kiểm soát của Nhật Bản.
    Việt Nam đă chấp hữu Hoàng Sa và Trường Sa từ 1884 đến 1951 dưới họng súng của Pháp. Nhật chỉ chiếm đoạt hai quần đảo này trong khoảng 5 năm, nên Hội Nghị San Francisco không phản đối lời tuyên bố về chủ quyền của Thủ Tướng Trần Văn Hữu, nhưng hội nghị này không phải là một cơ quan tài phán, có thể xác định chủ quyền thuộc về ai. Điều oái oăm là năm 1972, khi quyết định bỏ Miền Nam VN, Hoa Kỳ đă đem Miền Nam giao cho Bắc Kinh chứ không giao cho Hà Nội, v́ biết rất rơ Hà Nội chỉ là cánh tay nối dài của Bắc Kinh.
    4.- Sự ràng buộc của lời hứa
    Báo Đại Đoàn Kết đă lặp lại hai lư do mà chúng tôi đă đưa ra từ lâu để cho rằng Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng không có giá trị pháp lư.
    Lư do thứ nhất: Lúc đó hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc VNCH. Tục giao pháp lư Latin có câu: “Nemo dat quod non habet”, tức không ai cho cái ḿnh không có. Hoàng Sa và Trường Sa không thuộc miền Bắc nên Đảng CSVN không thể giao cho Trung Quốc được.
    Lư do thứ hai: Điều 23 của Hiến Pháp ngày 9.11.1946 quy định: “Nghị viện nhân dân (tức quốc hội)... chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ kư với nước ngoài.” Công hàm ngày 14.9.1958 không được quốc hội phê chuẩn nên không có giá trị.
    Tuy nhiên, sau khi nghiên cứu lại luật lư, chúng tôi thấy Công Hàm của Thủ Tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bán (promesse de vente): Hà Nội hứa với Bắc Kinh rằng nếu Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội đầy đủ phương tiện để chiếm miền Nam, sau khi chiếm được, Hà Nội sẽ giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc.
    Trong bài “Trở lại chuyện bán đất”, chúng tôi đă đưa ra hai học lư để chứng minh rằng trên một khía cạnh, công hàm ngày 14.9.1958 có thể bị coi như có giá trị cưỡng hành, đó là nguyên tắc “Promesse de vente vaut vente” (Hứa bán có giá trị như bán) trong hệ thống Roman Law và nguyên tắc “promissory estoppel” (sự ngăn chận việc làm trái với lời hứa) trong Common Law.
    Báo Đại Đoàn Kết nh́n nhận theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lư nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết "estoppel", nhưng cho rằng lời tuyên bố của VNDCCH thiếu 2 điều kiện nên không thể áp dụng thuyết này được, đó là: (1) Quốc gia nại "estoppel" phải chứng minh rằng ḿnh đă dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động; (2) Quốc gia nại "estoppel" cũng phải chứng minh rằng, v́ dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, ḿnh đă bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đă hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.
    Nếu lư luận kiểu này, Trung Quốc có thể chứng minh dễ dàng hai điều kiện nói trên đă hội đủ: Dựa vào Công Hàm của Phạm Văn Đồng, Trung Quốc đă viện trợ cho Hà Nội đầy đủ để đánh chiếm Miền Nam và Trung Quốc đă bị thiệt hại lớn khi Việt Nam không thực hiện lời hứa sau khi đă chiếm Miền Nam. Sợ Hà Nội sẽ lật lộng, Trung Quốc đă chiếm Hoàng Sa trước khi Hà Nội chiếm Miền Nam.
    NH̀N VÀO THỰC TẾ TRƯỚC MẮT
    Hôm 29.7.2011, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez cho báo chí biết Philippines muốn phân định vùng tranh chấp Biển Đông. Ông nói: "Nếu chúng ta có thể xác định những phần tranh chấp, chúng ta sẽ có khả năng khai thác chung. Các khu vực không có tranh chấp th́ đương nhiên thuộc quyền quản lư của quốc gia có chủ quyền”. Giải pháp này nghe rất giản dị, nhưng làm thế nào để phân biệt vùng tranh chấp và vùng không tranh chấp?
    1.- Trung Quốc coi chủ quyền Biển Đông là không thể tranh căi.
    Trong vụ kiện về khu vực đánh cá giữa Anh và Na Uy năm 1951. Na Uy coi vùng biển Anh đ̣i chủ quyền là vùng biển mà Na Uy đă khai thác qua nhiều thế kỷ và không có nước nào tranh chấp, nên phải coi đó là “vùng nước lịch sử” (historic water) và Na Uy có “quyền sở hữu lịch sử” (historic title). Lư thuyết này đă bị Công Ước LHQ về Luật Biển 1982 bác bỏ và thay vào đó vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lư của mỗi quốc gia.
    Mặc dầu bị Luật Biển 1982 bác bỏ, Trung Quốc vẫn dùng lư thuyết “vùng nước lịch sử” để coi Biển Đông là ao hồ của họ, tuy Trung Quốc không chứng minh được trong lịch sử họ đă chấp hữu một cách hợp pháp vùng Biển Đông trong “đường lưởi bỏ”. Nếu Trung Quốc tiếp tục xử dụng lư thuyết không được chấp nhận này, toàn Biển Đông trở thành “vùng tranh chấp” và không c̣n khu vực nào cho các quốc gia khác khai thác.
    2.- Xác định quyền sở hữu về các đảo đá và đảo đá ngầm.
    Các đảo thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều là đảo đá (rocks) hay đảo đá ngầm (reefs), không thể có cuộc sống tự nhiên được, nên rất khó chứng minh quyền sở hữu theo các điều kiện luật định.
    Luật “Corpus Juris Civilis” của La Mă được ban hành giữa năm 527 và 565 đă xác định chủ quyền về các hải đảo nổi lên ở biển (Insula in mara nata) như sau:
    “Một hải đảo nổi lên ở biển là vật vô chủ (nó không thuộc về ai) và v́ thế nó trở thành tài sản của người chiếm hữu đầu tiên”
    [An island which arose in the sea was res nullius (it belonged to nobody) and as such it become the property of the first occupant].
    Điều luật này đă gây ra những tranh chấp không giải quyết được v́ quốc gia nào cũng đưa ra những tài liệu chứng minh họ đă chiếm đầu tiên và bác bỏ tài liệu của phe đối kháng. Đây là trường hợp tranh chấp về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và nhiều nơi khác trên thế giới. Sau này, học lư và án lệ đưa ra những tiêu chuẩn về “sự thụ đắc bằng chiếm hữu” và “sự thụ đắc theo thời hiệu” để xác định chủ quyền đồi với các đảo trên biển. Gần như không quốc gia nào trong Biển Đông đáp ứng được các tiêu chuẩn này nên Trung Quốc phải dùng bạo lực để chiếm hữu. Hiện nay, các quốc gia thuộc khối ASEAN đang cố gắng đưa ra một Bộ Luật Ứng Xử (Code of Conduct) để giải quyết các tranh chấp này.
    3.- Vấn đề quần đảo Hoàng Sa
    Trung Quốc không những đă chiếm hữu bằng vơ lực quần đảo Hoàng Sa mà c̣n biến đảo này thành một đảo có thể có vùng đặc quyền kinh tế.
    Theo khoản 3, điều 121 Công ước Luật biển 1982, các đảo đá không thích hợp cho con người đến ở hoặc cho một đời sống kinh tế riêng th́ chỉ được có vùng lănh hải tối đa 12 hải lư, không được phép có vùng thềm lục địa và vùng đặc quyền về kinh tế. Đảo Hoàng Sa ở trong t́nh trạng này.
    Tuy nhiên, sau khi chiếm Hoàng Sa, Trung Quốc đă xây dựng đảo này thành một đảo mà con người có thể ở với những phương tiện phải đem từ bên ngoài đến và tuyên bố đảo này có vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lư. Đây là một sự nguỵ tạo.
    V́ Hoàng Sa chỉ cách Cù lao Ré (đảo Lư Sơn) của Việt Nam khoảng 200 hải lư và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 hải lư, nên vùng đặc quyền kinh tế của Hoàng Sa do Trung Quốc tuyên bố đă chồng lên vùng đặc quyền kinh tề của Việt Nam và ngăn chận Việt Nam đánh cá trong khu vực này.
    Theo nguyên tắc, khi vùng đặc quyền kinh tế của hai nước tiếp giáp chồng lên nhau như trên, phải chia đôi bằng một đường trung tuyến. Do đó, dù Hoàng Sa có vùng đặc quyền kinh tế, Trung Quốc cũng không thể lấn chiếm qua giới hạn luật định. Nhưng Trung Quốc có súng lớn, Việt Nam chỉ có súng nhỏ, nên Trung Quốc đă tự áp đặt quyền lợi của ḿnh trên quyền lợi của Việt Nam.
    ooOoo
    Nh́n chung, Đảng CSVN đă coi việc đánh chiếm Miền Nam quan trọng hơn bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa th́ đảng phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử. Để cứu văn tính thế, phải bám lấy Bộ Luật Ứng Xử (Code of Conduct) về Biễn Đông mà ASEAN sắp đưa ra để bảo vệ quyền lợi của Việt Nam. Chịu áp lực của Trung Quốc, đồng ư thi hành riêng bản Tuyên Bố về Ứng Xử (Declaration of Conduct) về Biển Đông 2002 giữa hai nước như mới đây, Việt Nam sẽ bị Trung Quốc đè bẹp.
    Ngày 2.8.2011
    Lữ Giang

  3. #3
    Member
    Join Date
    18-02-2016
    Posts
    263

    Chúng bán hay chúng lừa dân Việt?

    Xin đọc hai bài sau để biết những sự thật bị che dấu bao năm qua:
    1/
    http://nuocnha.blogspot.com/2016/12/...quang-thu.html
    2/
    http://nuocnha.blogspot.com/2016/07/...y-71-tuoi.html
    a/ Dơn xin học:

    b/ Lư lịch của Hồ quang:

    c/ Chữ kư 1

    d/ Chữ kư 2

    e/ Nghe bài hát Tàu trước khi chết:

    f/ Kế hoạch sát nhập Tàu:

  4. #4
    Độc giả vl
    Khách

    Việt Nam Tôi Đâu?

    Sự thể ấy th́ càng ngày rơ rệt do sắp đặt các thế lực QUỐC tế ,giải đất chữ S đó bây giờ được cai quản kiểm soát Bởi tàu cộng mà trong đó người ta vẫn c̣n nói tiếng Việt và có lẽ chỉ trong vài thế hệ nữa th́ mọi người đều phải nói tiếng Hán như dân ở Quảng Đông Quảng Tây bị Cấm nói tiếng Quảng nơi công cộng ,định mệnh dân tộc đến đây là thế, lối thoát cho Việt Nam rất mù mờ. Đợi Mỹ đánh tàu rồi xé tầu thành 5 mảnh cho VN dành lại độc lập th́ trái đất này cũng chẳng c̣n tồn tại được nữa do bom đạn hai bên dư sức tàn phá quả địa cầu. Riêng đối với tôi th́ Việt Nam đă mất từ 30 tháng 4 ,1975.

+ Reply to Thread

Thread Information

Users Browsing this Thread

There are currently 1 users browsing this thread. (0 members and 1 guests)

Similar Threads

  1. Replies: 1
    Last Post: 07-11-2015, 12:56 PM
  2. Replies: 3
    Last Post: 11-03-2012, 01:31 PM
  3. Replies: 2
    Last Post: 10-02-2012, 08:06 AM
  4. Replies: 1
    Last Post: 25-08-2011, 06:50 PM
  5. Replies: 28
    Last Post: 16-07-2011, 04:58 AM

Bookmarks

Posting Permissions

  • You may not post new threads
  • You may post replies
  • You may not post attachments
  • You may not edit your posts
  •